|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 548/2025/DS-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thảo Linh
- Ông Đỗ Quang Lý
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 1104/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 704/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 942/2025/QĐST-DS ngày 05/06/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D
Người đại diện theo ủy quyền : Bà Dương Thị Kim N – sinh năm 2001 (có mặt).
Văn bản ủy quyền: số 48/2024/UQ-CNQ5-PGDANBINH ngày 20/11/2024
Địa chỉ: Số I N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Trường G – sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số D Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (Gọi tắt Ngân hàng S) do bà Dương Thị Kim N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 30/07/2024 ông Nguyễn Trường G với Ngân hàng S có ký Hợp đồng tín dụng số [...].
Ngày 30/7/2024 Ngân hàng giải ngân cho ông G theo Khế ước nhận nợ số LD2421200552 với số tiền 950.000.000 đồng; Mục đích sử dụng vốn vay: mua xe ô tô.
Thời hạn vay: 72 tháng (Tính từ ngày 30/7/2024 đến 30/7/2030).
Lãi suất 12 tháng đầu là 8%/năm.
Từ tháng thứ 13 trở đi lãi suất điều chỉnh: Lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay cộng biên độ 3.5%/năm. Quyết định điều chỉnh lãi suất định kỳ 03 tháng/lần. Ngân hàng S1 sẽ thông báo cho ông G biết khi có sự điều chỉnh về lãi suất.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán nợ, ông G thế chấp tài sản là xe ô tô tải Pick up cabin kép, chi tiết tài sản như sau:
- Số khung: MPBAMFE60RX13520
- Số máy: YN2RRX613520
- Loại xe: RANGER RAPTOR
- Màu sơn: xám
- Biển số kiểm soát: 51D-949.87
- Xuất xứ: xe lắp ráp tại Thái Lan, mới 100%.
- Nhãn hiệu: FORD
- Năm sản suất : 2024
- Chứng từ kèm theo :
- Hợp đồng mua bán xe ô tô số 0816/BTF-HĐMB ngày 18/07/2024;
- Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 25/7/2024;
- Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 084147 ngày 26/7/2024;
- Giấy chứng nhận kiểm định xe số DB 3173901 ngày 27/7/2024;
- Giấy chứng nhận bảo hiểm xe số S-MPB-00231675-00-24-1 ngày 29/7/2024
- Hợp đồng bảo hiểm xe số S-MPB-00231675-00-24 ngày 29/7/2024
- Hóa đơn giá trị gia tăng về bảo hiểm xe số 64038 ngày 29/7/2024
- T xác nhận bảo hiểm ngày 29/7/2024.
Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm giao dịch bảo đảm tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/07/2024
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó khoản nợ vay của ông G được xếp vào nợ nhóm 2. Ngân hàng S nhiều lần liên lạc với phía ông G để yêu cầu thanh toán nợ nhưng ông G vẫn không thực hiện.
Do đó Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu ông G phải thanh toán các khoản nợ, gồm:
- Nợ gốc: 936.806.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 61.356.566 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 5.999.168 đồng
- Tổng cộng: 1.004.161.734 đồng
Nợ lãi này tạm tính đến ngày 27/06/2025.
Trong trường hợp đến hạn thanh toán nợ mà ông G chưa thi hành, phía ngân hàng S yêu cầu Tòa án tuyên phát mãi tài sản bảo đảm để thi hành nợ.
Sau khi phát mãi tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán các khoản nợ nêu trên thì ông G phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết nợ.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn Ngân hàng S do bà Dương Thị Kim N là người đại diện theo ủy quyền giữ nguyên ý kiến và yêu cầu đã trình bày.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Trường G nhưng ông G vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S; Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ, xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn ông G cư trú tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.
Thời hạn tố tụng: Thẩm phán vi phạm thời gian chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, kiến nghị rút kinh nghiệm .
Về người tham gia tố tụng : Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Về thu thập chứng cứ : Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng S yêu cầu ông G phải thanh toán số tiền vay còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ giữa Ngân hàng S với ông G, tổng cộng số tiền là 1.004.161.734 đồng (Trong đó nợ vốn là 936.806.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 61.356.566 đồng, nợ lãi quá hạn là 5.999.168 đồng).
Ngân hàng S yêu cầu ông G thanh toán một lần các khoản nợ nêu trên ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp, ông G không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ ngay thì Ngân hàng S có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu Ford, Biển số kiểm soát: 51D-949.87; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 084147 do Phòng cảnh sát giao thông - Công An Thành phố H cấp ngày 26/7/2024; Tài sản đăng ký giao dịch bảo đảm tại trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/7/2024
Xét thấy, ông G với Ngân hàng S có giao kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay tiền. Để đảm bảo cho số nợ vay, ông G thế chấp tài sản là 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay. Căn cứ Điều 340, Điều 342 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S.
Tại phiên tòa sơ thẩm, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét, đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S; Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 30/7/2024 và Khế ước nhận nợ số LD2421200552 ngày 30/7/2024, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn ông G cư trú tại quận T nên Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng và xét xử vắng mặt:
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Nguyễn Trường G. Tuy nhiên, ông G vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn ông G không đến Tòa án để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ, mặc dù đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn Ngân hàng S để xem xét giải quyết vụ án.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Xét, Ngân hàng S yêu cầu ông G thanh toán một lần số tiền còn nợ cho ngân hàng ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Các khoản tiền theo Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 30/7/2024 và Khế ước nhận nợ số LD2421200552 ký ngày 30/7/2024, cụ thể:
- Nợ gốc: 936.806.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 61.356.566 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 5.999.168 đồng
- Tổng cộng: 1.004.161.734 đồng
Nợ lãi này tạm tính đến ngày 27/06/2025.
Từ ngày 28/06/2025 ông G phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký với ngân hàng.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ; thể hiện giữa Ngân hàng S với ông G có thực hiện giao dịch vay tiền. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Ngân hàng S nhiều lần nhắc nợ nhưng ông G vẫn không thực hiện. Ông G vi phạm nghĩa vụ thanh toán là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía nguyên đơn Ngân hàng S. Căn cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Sau khi ông G thanh toán đầy đủ các khoản nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng S, phía ngân hàng phải trả cho ông G các giấy tờ sau:
- Hợp đồng mua bán xe ô tô số 0816/BTF-HĐMB ngày 18/07/2024;
- Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 25/7/2024;
- Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 084147 ngày 26/7/2024;
- Giấy chứng nhận kiểm định xe số DB 3173901 ngày 27/7/2024;
- Giấy chứng nhận bảo hiểm xe số S-MPB-00231675-00-24-1 ngày 29/7/2024;
- Hợp đồng bảo hiểm xe số S-MPB-00231675-00-24 ngày 29/7/2024;
- Hóa đơn giá trị gia tăng về bảo hiểm xe số 64038 ngày 29/7/2024;
- Thư xác nhận bảo hiểm ngày 29/7/2024.
Xét, Ngân hàng S yêu cầu trong trường hợp đến thời hạn thanh toán nợ mà ông G không thanh toán, phía ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng thế chấp tài sản số 6112021 ký ngày 30/07/2024 giữa ngân hàng S với ông Nguyễn Trường G, Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/7/2025
Tài sản trên đã được thế chấp để đảm bảo cho số nợ vay của ông G. Hình thức Hợp đồng thế chấp và tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật. Đến hạn thanh toán nợ mà ông G không thanh toán thì ông G phải bàn giao tài sản là 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford; Biển số kiểm soát: 51D-949.87; theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 084147 do Phòng cảnh sát giao thông - Công An Thành phố H cấp ngày 26/7/2024; Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/07/2024 để Ngân hàng S thực hiện quyền yêu cầu phát mãi tài sản. Căn cứ Điều 318, Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015, yêu cầu của Ngân hàng S về việc phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở để chấp nhận.
[4] Thời hạn thanh toán:
Xét, Ngân hàng S yêu cầu ông G phải thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy, ông G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng S. Căn cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, yêu cầu của Ngân hàng S là có cơ sở để chấp nhận.
[5]Về án phí Dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của Ngân hàng S được chấp nhận nên ông G phải chịu án phí trên số tiền phải trả là 1.004.161.734 đồng = 42.124.850 đồng.
H lại số tiền tạm nộp án phí cho Ngân hàng S.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 161; Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ;
- - Điều 318 ; Điều 323; Điều 338 Bộ luật dân sự năm 2015 ;
- - Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Buộc ông Nguyễn Trường G có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S theo Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 30/7/2024 và Khế ước nhận nợ số LD2421200552 kỳ ngày 30/7/2024, cụ thể:
- Nợ gốc: 936.806.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 61.356.566 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 5.999.168 đồng
- Tổng cộng: 1.004.161.734 đồng (Một tỷ không trăm lẻ bốn triệu một trăm sáu mươi mốt ngàn bảy trăm ba mươi bốn đồng)
Nợ lãi này tạm tính đến ngày 27/06/2025.
Từ ngày 28/6/2025 ông Nguyễn Trường G phải chịu lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 30/7/2024 và Khế ước nhận nợ số LD2421200552 ký ngày 30/7/2024, cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.
Sau khi ông Nguyễn Trường G thanh toán đầy đủ các khoản nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng thương mại cổ phần S, phía ngân hàng phải trả lại cho ông Nguyễn Trường G bản chính các giấy tờ, cụ thể:
- Hợp đồng mua bán xe ô tô số 0816/BTF-HĐMB ngày 18/07/2024;
- Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 25/7/2024;
- Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 084147 ngày 26/7/2024;
- Giấy chứng nhận kiểm định xe số DB 3173901 ngày 27/7/2024;
- Giấy chứng nhận bảo hiểm xe số S-MPB-00231675-00-24-1 ngày 29/7/2024;
- Hợp đồng bảo hiểm xe số S-MPB-00231675-00-24 ngày 29/7/2024;
- Hóa đơn giá trị gia tăng về bảo hiểm xe số 64038 ngày 29/7/2024;
- Thư xác nhận bảo hiểm ngày 29/7/2024.
Trong trường hợp đến ngày Bản án có hiệu thi hành mà ông Nguyễn Trường G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Ông G phải bàn giao tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford; Biển số kiểm soát: 51D-949.87 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 084147 do Phòng cảnh sát giao thông - Công An Thành phố H cấp ngày 26/7/2024; Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 6112021 ngày 30/07/2024 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S với ông Nguyễn Trường G; Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/07/2024 để Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Sau khi phát mãi tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán các khoản nợ nêu trên thì ông G phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết nợ.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Án phí Dân sự sơ thẩm: 42.124.850 đồng (Bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi bốn ngàn tám trăm năm mươi đồng) ông Nguyễn Trường G chịu.
H lại số tiền 20.245.206 đồng (Hai mươi triệu hai trăm bốn mươi lăm ngàn hai trăm lẻ sáu đồng) cho Ngân hàng thương mại cổ phần S theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0045568 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 548/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 548/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
