Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 547/2024/HS-ST

Ngày: 30-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vương Thị Khánh Loan
  2. Bà Hoàng Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Đ - Hội trường số 4 Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 531/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 530/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Mai Văn Vũ L; Giới tính: Nam;

Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1995, tại Đồng Tháp;

Nơi cư trú: không xác định (Nơi đăng ký thường trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp);

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 06/12 Nghề nghiệp: Không. Chức vụ: Không.

Họ và tên cha: Mai Văn Bé T, sinh năm: 1958 (còn sống);

Họ và tên mẹ: Lê Thị P, sinh năm: 1959 (còn sống);

Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con út và chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 28/6/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B;

(Có mặt).

- Bị hại: Anh Lê Trần Anh V, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: tổ A, Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(có đơn xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn T1, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Số G, Lô F, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 25/06/2024, Mai Văn Vũ L đi lang thang trên đường thì phát hiện trước quán cà phê “LV” (địa chỉ: H, khu dân cư L, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) có dựng 01 chiếc xe đạp màu vàng - trắng - xanh nhãn hiệu MARIN của anh Lê Trần Anh V (sinh năm 1982, ngụ tại: tổ A, khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai) đang được khóa bởi 01 sợi dây (làm bằng kim loại) nên L nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, L lấy 01 cây kéo (loại cắt cây cảnh) tìm được ở gần đó, lén lút dùng kéo cắt đứt sợi dây kim loại khóa xe trên rồi điều khiển xe tẩu thoát về hướng cầu A. Đến khoảng 08 giờ ngày 26/06/2024, L mang chiếc xe đạp trên đến tiệm X (địa chỉ: khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) của anh Hoàng Văn T1 (sinh năm 1990, ngụ tại địa chỉ trên) bán được số tiền 450.000₫ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và tiêu xài hết. Sau khi bị mất xe, ngày 28/06/2024 anh V đến Công an xã L trình báo. Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, biết được quán cà phê có gắn camera và hành vi đã bị phát hiện nên L đến Công an xã L đầu thú. Sau đó, vụ việc được Công an xã L lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B khởi tố, điều tra xử lý.

* Vật chứng vụ án gồm:

  • 01 chiếc xe đạp màu vàng - trắng - xanh nhãn hiệu MARIN là tài sản bị trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho anh Lê Trần Anh V. (Bút lục số: 62-63 và 66);
  • 01 cây kéo (loại cắt cây cảnh), sau khi sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, bị can đã vứt bỏ vào bụi cây ven đường, không xác định được địa điểm cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
  • 01 USB lưu trữ file hình ảnh liên quan hành vi phạm tội trong vụ án, thu giữ được tại khu vực hiện trường vụ trộm. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 213/KL-HĐĐGTS ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B kết luận: “01 xe đạp Marin trị giá 5.250.000đ (Năm triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng)”.

* Về dân sự:

  • Bị hại Lê Trần Anh V không yêu cầu L bồi thường dân sự.
  • Anh Hoàng Văn T1 là người mua xe đạp của L với giá 450.000 đồng, xe đạp đã được thu hồi, Tưởng không yêu cầu bồi thường dân sự.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 520/CT-VKSBH-HS ngày 05/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Mai Văn Vũ L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Mai Văn Vũ L từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù. Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

[1.1] Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[1.2] Bị hại anh Lê Trần Anh V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn T1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, việc vắng mặt anh V, anh T1 không ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận định giá tài sản, biên bản lấy lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 25/06/2024, tại khu vực trước quán cà phê “LV” (địa chỉ: H, khu dân cư L, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) Mai Văn Vũ L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu MARIN trị giá 5.250.000đ (Năm triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) của anh Lê Trần Anh V thì bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Mai Văn Vũ L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 520/CT-VKSBH-HS ngày 05/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Bị cáo là người là người đã trưởng thành, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đến Công an đầu thú. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời

Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

[3] Về vật chứng:

  • 01 chiếc xe đạp màu vàng - trắng - xanh nhãn hiệu MARIN là tài sản bị trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho anh Lê Trần Anh V là đúng quy định pháp luật.
  • 01 cây kéo (loại cắt cây cảnh), sau khi sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã vứt bỏ vào bụi cây ven đường, không xác định được địa điểm cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
  • 01 USB lưu trữ file hình ảnh liên quan hành vi phạm tội trong vụ án, thu giữ được tại khu vực hiện trường vụ trộm. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

[4] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:

  • Bị hại anh Lê Trần Anh V không yêu cầu L bồi thường dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn T1 là người mua xe đạp của L với giá 450.000 đồng, xe đạp đã được thu hồi, anh T1 không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Vấn đề khác:

Đối với anh Hoàng Văn T1 là người đã mua chiếc xe đạp do bị cáo L trộm cắp mà có. Khi mua, anh T1 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý hình sự là phù hợp.

[6] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên:

Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
    • - Tuyên bố bị cáo Mai Văn Vũ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Mai Văn Vũ L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 6 năm 2024.
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Mai Văn Vũ L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.Biên Hòa
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thành Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 547/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 547/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger