Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 547/2024/HSST

Ngày: 29-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Võ Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 508/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8680/2024/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy T

sinh ngày 04 tháng 11 năm 2003, nơi sinh: tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nam; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969 và bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1979; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 21/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 23/8/2022, đóng án phí ngày 25/11/2021. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2023 (có mặt).

Bị hại:

Chị Lê Thu H, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 2001.
  • Địa chỉ: Ấp C, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  • - Bà Bùi Thị H1, sinh 1984
  • Địa chỉ: D L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Duy T và chị Lê Thu H thỏa thuận mua bán dâm với giá 300.000 đồng và hẹn gặp nhau ở khách sạn “N”, địa chỉ số G đường D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để mua bán dâm. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, Nguyễn Duy T đi đến khách sạn N2 gặp nhân viên lễ tân là anh Ngô Nhật T3 để thuê phòng số 102. Khoảng 10 phút sau, chị H chạy xe mô tô đến khách sạn và đi đến phòng 102. T và H ngồi trên giường nói chuyện với nhau được một lúc thì cả hai chuẩn bị quan hệ tình dục. T đề nghị việc quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su nhưng H không đồng ý, H nói đưa cho H 200.000 đồng để đi về. Do T chưa quan hệ tình dục được với H và nhìn thấy H để điện thoại trên gường nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại trên. T liền dùng tay choàng qua cổ từ phía sau kéo H ngã ngửa xuống giường rồi ngồi lên trên ngực H, dùng tay trái bóp cổ, tay phải đấm liên tục vào mặt H làm H bị ngất xỉu. T đưa H vào trong nhà vệ sinh, dùng vòi xịt nước vào mặt cho H tỉnh lại. Khi H tỉnh lại thì H la lên, T dùng tay bịt miệng để H không thể la to cầu cứu, T tiếp tục dùng tay đánh liên tiếp vào mặt của H nhiều cái làm H ngất xỉu. Sau đó, T đi ra, mặc quần áo và lấy điện thoại di động hiệu Redmi 12 của H rồi đi ra ngoài, đóng cửa phòng, đi đến quầy lễ tân gặp nhân viên lễ tân là anh T3 để thanh toán tiền phòng, rồi ra xe mô tô tẩu thoát. Chị H tỉnh dậy lết ra bên ngoài hành lang kêu cứu, anh T3 nghe tiếng kêu nên đến giúp đỡ chị H đi xuống ngồi nghỉ ở ghế sofa tại quầy lễ tân. Anh T3 gọi điện thoại thông báo cho chị Trần Thị L là chủ khách sạn. Chị L đến khách sạn biết sự việc nên trình bảo đến Công an phường T. Sau đó, chị L đưa chị H đến bệnh viện L1 để cấp cứu.

Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 04/7/2023 T nhờ anh ruột mình là Nguyễn Văn N mang điện thoại trên đến cửa hàng điện thoại Anh T4 do chị Bùi Thị H1 làm chủ bán với giá 1.200.000 đồng, mang tiền về đưa cho T và T tiêu xài cá nhân hết. Cùng ngày, chị H1 bán điện thoại trên cho người đàn ông không rõ lai lịch với giá 1.500.000 đồng.

Qua truy xét, ngày 05/7/2023, Đ đã mời Nguyễn Duy T lên làm việc.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của T tại phòng trọ địa chỉ số D L, tổ G, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và thu giữ được những đồ vật, tài liệu gồm:

  • 04 (bốn) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02 cm, bên trong mỗi túi có một ít tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02.5 cm, bên trong túi có một ít tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 03 cm x 03 cm, bên trong mỗi có một ít tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) áo sơ mi dài tay, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) quần jeans lửng màu xám, đã qua sử dụng.

Bản kết luận định giá tài sản số 40-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12, đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 3.330.000 đồng; (bút lục 26).

Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 218/TgT.24 ngày 10/5/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố H kết luận về thương tích của Lê Thu H như sau:

Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị hiện tại thời điểm giám định:

  • Vùng đỉnh đầu, má trái, dưới mắt trái, trán, tai trái, sau tai trái, mắt hai bên không còn sưng bầm, không còn xuất huyết kết mạc mắt, ổn định. Có tỷ lệ: 00% (Không phần trăm).

Nhiều khả năng do vật tày tác động gây ra.

  • Vùng mũi không còn dấu vết thương tích. Có tỷ lệ: 00% (Không phần trăm).

Không đủ cơ sở xác định hung khí.

  • Vùng má phải: Một vết tăng sắc tố mở kích thước 0,3x0,2cm (ảnh 1).
  • Vùng cổ phải: Bốn vết tăng sắc tố mở kích thước 0,6x0,2cm (ảnh 2.1). 0,8x0,2cm (ảnh 2.2), 1x0,3cm (ảnh 2.3) và 0,6x0,2cm (ảnh 2.4).
  • Vùng cổ trái: Một vết tăng sắc tố mở kích thước 0,6x0,3cm (ảnh 3). Có lệ: 0,5% (Không phẩy năm phần trăm) mỗi vết.

Thương tích trên do vật có cạnh tác động gây ra.

Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%

Tất cả các thương tích không nguy hiểm đến tính mạng.

Bản kết luận giám định số 7508/KL-KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, không xác định được khối lượng do mẫu quá ít, loại Methamphetamine (bút lục 62).

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Duy T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 12 (chưa thu hồi được)
  • 04 (bốn) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02 cm, bên trong mỗi túi có một ít tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02.5 cm, bên trong túi có một ít tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 03 cm x 03 cm, bên trong mỗi có một ít tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) áo sơ mi dài tay, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) quần jeans lửng màu xám, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thu H yêu cầu bồi thường số tiền 100.330.000 đồng, bị cáo chưa bồi thường.

Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy do Nguyễn Duy T sử dụng ma túy một mình, khối lượng ma túy không đủ định lượng, Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý hình sự T là có căn cứ.

Đối với hành vi gây thương tích cho chị Lê Thu H với thương tích 03% không đủ căn cứ xử lý T về tội cố ý gây thương tích.

Qúa trình Tòa án chuẩn bị xét xử, bị hại chị Lê Thu H có Đơn xin xét xử vắng mặt và chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng là 25.000.000 đồng.

Cáo trạng số 465/CT-VKSTPTĐ ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Duy T về Tội “Cướp tài sản” theo Khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy T như Bản cáo trạng số 465/CT-VKSTPTĐ ngày 05/9/2024 và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 04 năm đến 05 năm tù.

Đề nghị xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 04 (bốn) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02 cm, bên trong mỗi túi có một ít tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02.5 cm, bên trong túi có một ít tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 03 cm x 03 cm, bên trong mỗi có một ít tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) áo sơ mi dài tay, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) quần jeans lửng màu xám, đã qua sử dụng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu và có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối hận. Trong lời nói cuối cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đồng ý bồi thường 25.000.000 đồng cho bị hại ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát Điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với với lời khai của bị hại; Biên bản đối chất; Kết luận định giá tài sản ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thành phố T; Kết luật giám định số: 7508/KL-KTHS ngày 12/7/2023 của Phòng K Công an Thành phố H; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 218/KLTTCT-TTPY.2024 ngày 10/5/2024 của T5 tân Pháp Y Sở Y Tế Thành phố H; Bản ảnh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, Nguyễn Duy T sau khi không quan hệ tình dục với chị H do mâu thuẫn trong việc mua bán dâm nên T dùng tay phải đánh vào vùng mặt chị H nhiều cái, tay trái bóp cổ chị H, sau đó T chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12, trị giá 3.330.000 đồng của chị Lê Thu H, tại Phòng 102 khách sạn “Nam Ka”, địa chỉ số G đường D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Duy T đã đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Bị cáo Nguyễn Duy T là người có nhân thân xấu năm 2021 đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2022 bị cáo đã không chịu tu dưỡng, chấp hành pháp luật, sinh sống lành mạnh mà đua đòi ăn chơi và để có tiền, bị cáo đã đi vào con đường chiếm đoạt tài sản của người khác. Trong vụ án này, trong lúc muốn có tiền để tiêu xài nên T đã thực hiện hành vi cướp tài sản của chị H tại Phòng 102 khách sạn “Nam Ka”, địa chỉ số G đường D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Duy T đã dùng tay phải đánh vào vùng mặt chị H, tay trái bóp cổ chị H và chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12. Hành vi cướp tài sản do bị cáo Nguyễn Duy T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản, đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Xét thấy, tội phạm do bị cáo Nguyễn Duy T gây ra là có tính cố ý cao, Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hết sức táo bạo, thể hiện rõ sự xem thường pháp luật và xem thường trật tự chung, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương; tài sản bị cáo chiếm đoạt đến nay vẫn chưa khắc phục, bồi thường cho bị hại và làm ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và gia đình họ. Tuy nhiên cũng xét, tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai báo đầy đủ, có thái độ ăn năn hối lỗi. Do đó, khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, cần áp dụng khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt áp dụng; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tù nghiêm khắc và tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về bồi thường dân sự: Xét thỏa thuận về việc bồi thường dân sự giữa bị cáo với bị hại là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, nghĩ nên ghi nhận sự thỏa thuận như sau: Nguyễn Duy T có trách nhiệm bồi thường: 25.000.000 đồng cho chị Lê Thu H.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 và Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02 cm, bên trong mỗi túi có một ít tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02.5 cm, bên trong túi có một ít tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 03 cm x 03 cm, bên trong mỗi có một ít tinh thể màu trắng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, đã qua sử dụng; 01 (một) quần jeans lửng màu xám, đã qua sử dụng.

Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy do Nguyễn Duy T sử dụng ma túy một mình, khối lượng ma túy không đủ định lượng, Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý hình sự T là có căn cứ.

Đối với hành vi gây thương tích cho chị Lê Thu H với thương tích 03% không đủ căn cứ xử lý T về tội cố ý gây thương tích.

Đối với anh Nguyễn Văn N khi mang điện thoại do T chiếm đoạt được của chị H mang đi bán giùm; Chị Bùi Thị H1 là chủ cửa hàng kinh doanh điện thoại mua chiếc điện thoại trên. Anh Nguyễn Văn N và chị Bùi Thị H1 không biết đây là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh N, chị H1 là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Cướp tài sản”.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2023.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02 cm, bên trong mỗi túi có một ít tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 02 cm x 02.5 cm, bên trong túi có một ít tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nylong kéo zip có kích thước 03 cm x 03 cm, bên trong mỗi có một ít tinh thể màu trắng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, đã qua sử dụng; 01 (một) quần jeans lửng màu xám, đã qua sử dụng.

(Tài sản tịch thu tiêu hủy được ghi trong Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/374C ngày 18/7/2024 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

3. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Công nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường của Nguyễn Duy T đối với chị Lê Thu H như sau:

Nguyễn Duy T có trách nhiệm bồi thường: 25.000.000 đồng cho chị Lê Thu H.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ phải thi hành chậm trả tiền thì bên đó phải chịu thêm khoản tiền bằng mức trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án. Những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận :

  • - Tòa án ND TP.HCM;
  • - Viện KSND TP.HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Viết Nghiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 547/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tội cướp tài sản)

  • Số bản án: 547/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chỉ Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 508/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger