Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 547/2023/HS-PT

Ngày: 28 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Tấn Long

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Phạm Tồn

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với điểm cầu thành phần tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 530/2023/TLPT-HS ngày 26-10 - 2023, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HS-ST ngày 14 - 9 - 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Thanh V, sinh năm 1982 tại tỉnh Quảng Nam;

Nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T, sinh năm 1944 và bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1953; có vợ là Dương Thị Tường V1 (sinh năm 1985, hiện đã ly hôn) và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 07/01/2022, chuyển tạm giam từ ngày 13/01/2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh V theo chỉ định: Luật sư Trần Văn M - Văn phòng Luật sư Đào Duy K, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt, bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt Luật sư bào chữa.

Ngoài ra, vụ án còn có 17 bị hại và 26 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian năm 2020 đến năm 2021, bản thân Trần Thanh V không công tác tại các cơ quan chức năng có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ công về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; không có đầy đủ các điều kiện để thực hiện các dịch vụ công về đất, nhưng V tiến hành lập hợp đồng dịch vụ và nhận tiền của 15 (mười lăm) người bị hại, chiếm đoạt số tiền là: 910.000.000 đồng. Ngoài ra, V còn dùng thủ đoạn gian dối để được vay, mượn tiền của hai bị hại với số tiền: 256.000.000 đồng (hai trăm năm mươi sáu triệu đồng). Trần Thanh V sử dụng tổng số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại là: 1.166.000.000 đồng để tiêu xài và trả tiền vay lãi suất ngân hàng (A - Chi nhánh Q2) đối với thửa đất số: 885, tờ bản đồ số: 05, tại thôn K, xã T huyện P (nhà và đất của Dương Thị Tường V1, vợ cũ của V). Cụ thể như sau:

  1. Đối với bị hại N: Trần Thanh V biết anh Ngô X có nhu cầu nhập thửa, làm giấy chứng nhận mới để tăng diện tích thửa đất của anh X lên 111m2 đất vào thửa đất số: 92, tờ bản đồ số: 2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: G 262523. Ngày 28/11/2020 V lập hợp đồng thỏa thuận với anh X giúp làm giúp để tăng diện tích theo yêu cầu của anh X, để nhận số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), thời gian thực hiện việc nhập thửa là 45 ngày. Sau khi nhận tiền, V không thực hiện bất kỳ công việc gì như thỏa thuận, mà chiếm đoạt số tiền này. V sử dụng số tiền này để mua đất tại Quảng Ngãi hết 150.000.000đồng, số tiền còn lại V trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng, tiền vay nóng ngoài xã hội hết (tiêu xài cá nhân). Tổng số tiền V chiếm đoạt của anh Ngô X là: 200.000.000 đồng.

  2. Đối với bị hại Trần Tấn H: Ngày 10/5/2021, Trần Thanh V biết anh H có nhu cầu tách thửa đất ra làm 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 10/5/2021, V đã lập hợp đồng dịch vụ để nhận của anh H số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Ngày 01/6/2021, V tiếp tục đến gặp Trần Tấn H nhận số tiền thêm số tiền là: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Sau khi nhận tiền của anh H, V không thực hiện bất kỳ công việc gì liên quan đến việc thực hiện các dịch vụ công về đất cho anh H và chiếm đoạt số tiền trên để tiêu xài cá nhân, trả tiền lãi suất ngân hàng, lãi suất vay ngoài xã hội hết. Tổng số tiền chiếm đoạt của anh Trần Tấn H là: 30.000.000đồng

  3. Đối với bị hại Nguyễn Thị H1: Ngày 28/5/2021, Trần Thanh V biết chị Nguyễn Thị H1 có nhu cầu muốn tăng diện tích đất ở của thửa đất số: 60; Tờ bản đồ số: 23b; địa chỉ thửa đất: Phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, giấy chứng nhận số: AC 235443 lên 200m2 đất ở. Ngày 28/5/2021 Trần Thanh V đã lập hợp đồng dịch vụ, thỏa thuận là thực hiện trong thời gian 60 ngày, số tiền thực hiện hợp đồng là 130.000.000 đồng; nhưng nhận trước của chị H1 số tiền: 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng); ngày 25/9/2021, V tiếp tục yêu cầu bà H1 giao tiếp số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) để V thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên sau khi nhận tiền, V không thực bất kỳ công việc nào để thực hiện thỏa thuận mà chiếm đoạt số tiền trên, sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân; số tiền mà Trần Thanh V chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H1 là: 85.000.000 đồng.

  4. Đối với bị hại Nguyễn D:

    Ngày 10/5/2021 đến ngày 20/5/2021, Trần Thanh V biết anh Nguyễn D muốn chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở đối với 07 thửa đất. Ngày 10/5/2021, Trần Thanh V lập hợp đồng dịch vụ thực hiện dịch vụ về đất đối với hai thửa đất tại T, N, hẹn đến ngày 25/7/2021 sẽ hoàn thành thỏa thuận, V đề nghị tổng chi phí hết số tiền là: 70.000.000đồng, anh D đồng ý và giao cho V nhận trước số tiền là: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng); ngày 20/5/2021, Trần Thanh V tiếp tục lập hợp đồng dịch vụ thực hiện các dịch vụ công về đất đối với hai thửa đất tại T, thỏa thuận chi phí hết 120.000.000đồng, anh D đưa trước cho V số tiền là: 100.000.000đồng, số tiền còn lại sẽ nhận sau khi hoàn thành thỏa thuận. Sau khi nhận tiền của anh D, Trần Thanh V không thực hiện bất kỳ công việc nào liên quan đến việc thực hiện các dịch vụ công về đất, mà chiếm đoạt sử dụng vào mục đích trả nợ cho Lương Thanh H2 (sinh năm 1985, trú tại thị trấn T, T) số tiền: 100.000.000đồng, số tiền còn lại V tiêu xài cá nhân hết. Số tiền V chiếm đoạt của anh Nguyễn D là: 150.000.000 đồng (một trăm, năm mươi triệu đồng).

  5. Đối với bị hại Trần Văn D1: Trần Thanh V biết anh Trần Văn D1 có nhu cầu tách thửa đất, nhập thửa đất tại T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Ngày 28/9/2021, V đề nghị chi phí thực hiện các dịch vụ công về đất là: 75.000.000đồng, anh D1 đồng ý và giao cho trước cho V số tiền là 55.000.000đồng, số tiền còn lại sẽ giao sau khi V thực hiện xong thỏa thuận trong thời hạn 35 ngày, V đã viết một giấy nhận tiền với số tiền nêu trên. Đối với thửa đất số 408/2, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố T. Ngày 23/5/2021, Trần Thanh V đề nghị chi phí là 25.000.000đồng, thời hạn thực hiện là 40 ngày. Anh D1 đồng ý và giao cho V số tiền là 25.000.000đồng. Sau khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này của anh D1, thì V không thực hiện bất kỳ công việc nào để thực hiện các dịch vụ công về đất mà mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số: 408/2, tờ bản đồ số: 6 của anh Trần Văn D1 cầm cố cho anh Nguyễn Văn C (sinh năm 1983, trú tại Thôn E, xã T, huyện P - Hành nghề bán vé số dạo) với số tiền: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) để tiêu xài cá nhân. Cơ quan điều tra đã tạm giữ giấy CNQSDĐ nêu trên. Số tiền mà V chiếm đoạt của Trần Văn D1 là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.

  6. Đối với bị hại Đỗ Phú H3: Ngày 10/9/2021, ông Đỗ Phú H3 nghe Trần Thanh V nói bản thân có nhiều mối quan hệ, có thể thực hiện các dịch vụ công về đất. Ông H3 tin tưởng nên có nhờ Trần Thanh V làm sổ đỏ mới cho 05(năm) hồ tôm tại các xã T, 2 huyện N, tỉnh Quảng Nam và nhập thửa đối với 02(hai) thửa đất tại xã T, thành phố T. V đồng ý và nói chi phí hết 115.000.000 đồng; ông H3 đồng ý. Các thửa đất cụ thể, gồm: Hợp thửa: Hợp thửa đất số: 488, tờ bản đồ số: 10, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CP 386450 với thửa đất liền kề số: 579, tờ bản đồ số: 10, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CP410157, các thửa đất có địa chỉ tại xã T, thành phố T. Chi phí 25.000.000 đồng. - Cấp sổ mới cho các thửa đất tại thôn T, xã T, huyện N gồm: Thửa đất số: 214, tờ bản đồ địa chính số 18, diện tích 1577,6m; Thửa đất số: 128, tờ bản đồ địa chính số: 18, diện tích 2123,2m2; thửa đất số: 161, tờ bản đồ địa chính số: 18, diện tích 1894,8m2 và 02(hai) thửa đất hồ tôm chưa đo đạt, V yêu cầu đo đạt và giao cho V để cấp sổ đỏ. Tổng chi phí là 90.000.000 đồng. Ngày 10/9/2021, Vũ lập hợp đồng dịch vụ nhận trước của H3 số tiền là 65.000.000 đồng, thỏa thuận thực hiện trong thời hạn 60 ngày. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền xong thì V không lập hợp đồng ủy quyền và không thực hiện hợp đồng mà sử dụng tiền có được để tiêu xài cá nhân hết. Tổng số tiền V chiếm đoạt của Đỗ Phú H3 là: 65.000.000 đồng.

  7. Đối với bị hại T: Ngày 20/5/2021, Trần Thanh V biết ông Trần T1 có nhu cầu tách thửa tại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm có 04(bốn) thửa. V thỏa thuận với anh T1 là chi phí hết 10.000.000đồng, anh T1 đồng ý. Ngày 20/5/2021, V viết một giấy nhận tiền, nhận của anh T1 số tiền là: 10.000.000đồng, nhằm mục đích để tách thửa đất trên. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền của anh T1 thì V không thực hiện bất kỳ công việc gì để thực hiện các dịch vụ công về đất cho anh T1. Tổng số tiền mà V chiếm đoạt của anh T1 là: 10.000.000đồng.

  8. Đối với bị hại Trần Lê T2: Ngày 23/6/2021, Trần Thanh V thỏa thuận với Trần Lê T2 là nhập thửa đối với phần diện tích đất (có chiều ngang 1,5m) ở thửa đất có số nhà B, đường B vào thửa đất liền kề của anh T2 ở số nhà B, đường B, phường A, T. Chi phí Vũ tự đưa ra là 30.000.000đồng, anh T2 đồng ý và Vũ lập một hợp đồng dịch vụ, hẹn đến ngày 10/8/2021sẽ xong việc nhập thửa đối với thửa đất trên. Đồng thời V nhận trước số tiền: 20.000.000 đồng, số tiền còn lại anh T2 sẽ giao sau khi thực hiện xong thỏa thuận.

    Ngày 24/6/2021, Trần Thanh V tiếp tục thỏa thuận với T2 chuyển đổi mục đích thửa đất số: 99, tờ bản đồ số: 4, diện tích 374,5m², địa chỉ phường T, thành phố T. Chi phí Vũ tự đưa ra là 100.000.000đồng, anh T2 đồng ý và V đã lập một hợp đồng dịch vụ hẹn đến ngày 24/9/2021 sẽ hoàn thành xong thỏa thuận, anh T2 đã đưa trước cho V số tiền là: 50.000.000đồng, số tiền còn lại V sẽ nhận sau khi thực hiện xong thỏa thuận.

    Tuy nhiên, sau khi nhận tiền của anh T2 thì V không không thực hiện bất kỳ công việc nào để thực hiện các dịch vụ công về đất đối với hai thửa đất của anh T2 theo thỏa thuận. Số tiền Vũ nhận của anh T2 đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết. Tổng số tiền V chiếm đoạt của anh T2 là: 70.000.000đồng.

  9. Đối với bị hại Nguyễn H4: Năm 2021, ông Nguyễn H5 có nhu cầu tách thửa diện tích 100m², đối với thửa đất số: 100, tờ bản đồ số: 96, diện tích: 1336,3m², địa chỉ: Khối phố F, phường H, T. Ông H5 quen biết với Trần Thanh V, nên có nhờ V thực hiện việc tách thửa đối với thửa đất trên. Ngày 11/10/2021, V trực tiếp đến nhà ông H5 để xem đất và nói là sẽ giúp ông H5 tách ra thành hai thửa; chi phí 45.000.000đồng. V lập một hợp đồng dịch vụ, hẹn 60 ngày (từ ngày 11/10/2021 đến ngày 11/12/2021) thực hiện xong việc tách thửa, anh H5 đồng ý và đã đưa trước 20.000.000đồng; số tiền còn lại sẽ giao sau khi thực hiện xong thỏa thuận. Sau khi nhận tiền của anh H5 thì V không lập Hợp đồng ủy quyền, không thực hiện bất kỳ công việc gì để thực hiện các dịch vụ công về đất cho anh H5; số tiền có được V tiêu xài vào mục đích cá nhân hết.Tổng số tiền mà V chiếm đoạt của anh H5 là: 20.000.000đồng.

  10. Đối với bị hại Trần Anh B: Ngày 22/9/2021, Nguyễn Thị P nhờ Trần A Bằng làm thủ tục tách thửa đất số 834, tờ bản đồ số 8, diện tích 945m², địa chỉ: xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; sau khi tách thửa đất trên từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 972266, thì tiến hành tách thêm ra thành 04(bốn) thửa khác. Bằng đã nhờ Trần Thanh V thực hiện việc tách thửa đối với thửa đất trên, V đồng ý nói với anh B chi phí là 35.000.000đồng, B đồng ý và đã chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho cho Trần Thanh V. Khi nhận tiền của B thì V không lập Hợp đồng ủy quyền, không thực hiện bất kỳ công việc gì để thực hiện các dịch vụ công về đất đối với thửa đất trên. V sử dụng số tiền của anh B vào mục đích tiên xài cá nhân hết.Tổng số tiền mà V chiếm đoạt của anh B là: 35.000.000đồng.

  11. Đối với bị hại Đinh Thị T3: Tháng 5/2020, Trần Thanh V cùng với Hoàng Quốc N1 (sinh năm 1984), Bùi Trần Hoài P1 (sinh năm 1981) cùng trú tại: Khối phố X, phường T, thành phố T, chung tiền mua thửa đất số: 89, tờ bản đồ số: 30, tại phường H, thành phố T, nhằm tách thửa để bán lại kiếm lời. Ngày 29/6/2020, Trần Thanh V đến nhà chị Đinh Thị T3 (Sinh năm 1973, trú tại: Số A L, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) để mượn số tiền 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) để chung tiền mua đất với P1, chị T3 đồng ý và cho Vũ mượn số tiền trên. Thực tế V đã dùng số tiền này để chung mua đất với P1, N1.

    Ngày 08/9/2021, V tiếp tục đến nhà chị T3 để mượn số tiền 166.000.000đồng. Để chị T3 tin tưởng Vũ ghi một giấy mượn tiền với số tiền 266.000.000đồng (đã tính số tiền 100.000.000đồng đã mượn ngày 29/6/2020), hẹn đến ngày 19/9/2021 sẽ trả số tiền 100.000.000đồng, số tiền 166.000.000đồng sẽ trả vào ngày 19/10/2021. Để củng cố thêm niềm tin cho chị T3, V cam đoan là sẽ trả đúng thời hạn, nếu không trả thì V sẽ giao chiếc xe ôtô 92A - 192.13 cho chị T3. Nhưng thực tế chiếc xe ôtô này V thuê của chị Trương Thị Thúy N2 (sinh năm 1993, trú tại thôn C, xã T, huyện P) để sử dụng, V không có quyền định đoạt, chuyển nhượng. Do đó, V đã sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của chị T3 số tiền 166.000.000đồng.

    Đối với số tiền 100.000.000đồng, Vũ mượn của chị T3 vào ngày 29/6/2020 đã sử dụng đúng mục đích mượn, là chung tiền mua đất với anh P1, N. Do đó, đây là giao dịch dân sự. Tổng số tiền mà V chiếm đoạt của chị T3 là: 166.000.000đồng.

  12. Đối với bị hại Đoàn Thị Kim Q: Trần Thanh V nhờ Trần A Bằng giới thiệu V gặp chị Đoàn Thị Kim Q1 để mượn tiền. Nhằm mục đích tạo niềm tin cho chị Q1, V nói là mượn tiền để nộp thuế nhà đất, nhưng thực tế Vũ mượn để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Đồng thời V giao cho chị Q1 một Giấy đăng kiểm của xe ôtô 91A - 192.13 (xe này V thuê của chị Trương Thị Thúy N2 để làm phương tiện đi lại) nói là xe của V để chị Q1 tin tưởng. Do tin tưởng lời nói của Trần Thanh V là thật nên chị Q1 cho Vũ mượn số tiền 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) và được Văn phòng C3, Nguyễn Chí T4, Quảng Nam chứng thực, V cho lại chị Q1 số tiền 10.000.000đồng. Ngày 30/9/2021 Trần Thanh V tiếp tục mượn của chị Q1 số tiền là 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng) để tiêu xài cá nhân, chị Q1 đồng ý và cho Vũ mượn số tiền trên, do không đủ tiền nên chị Q1 đưa trước cho V 26.000.000 đồng. Hiện nay V đã trả cho chị Q1 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) trong số tiền mượn 30.000.000đồng và nợ lại số tiền 6.000.000 đồng.

    Đối với số tiền 100.000.000đồng, V nói với chị Q1 là để nộp thuế nhà đất, nhưng thực tế V không nộp thuế nhà đất mà sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Để tin tưởng V còn để lại Giấy đăng kiểm của xe ôtô 91A - 192.13 (xe này V thuê của chị Trương Thị Thúy N2 để làm phương tiện đi lại) để làm tin, nhưng thực tế V không có quyền định đoạt đối với chiếc xe ôtô này. Do đó, hành vi của V đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với số tiền 90.000.000đồng.

Đối với số tiền 30.000.000đồng, Vũ mượn của Q1 để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân, V đã trả được 20.000.000đồng, còn lại số tiền 6.000.000đồng. Do đó, việc mượn tiền giữa V với Q1 đối với số tiền trên là giao dịch dân sự.

Tổng số tiền mà V chiếm đoạt của chị Q1 là: 90.000.000đồng.

  1. Đối với bị hại Nguyễn Thị T5: Ông Nguyễn C1 là chủ thửa đất số: 133, tờ bản đồ số: 6, tại khối phố C, phường A, T. Năm 2021, Nguyễn Thị T5 (con ruột của anh C1) có nhờ V làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với thửa đất trên. T5 đã giao cho V số tiền là 35.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền của T5 thì V không thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho chị T5.

    V chiếm đoạt của chị T5 số tiền là: 35.000.000đồng. Quá trình điều tra, bà T5 không yêu cầu bị cáo V trả lại số tiền đã bị V chiếm đoạt.

  2. Đối với bị hại Nguyễn Thị P: Tháng 8/2020, bà Nguyễn Thị P có nhờ V làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với thửa đất số: 82, tờ bản đồ số: 31 tại phường T, T. Trần Thanh V đồng ý và nhận của chị P số tiền là 20.000.000đồng, nhưng sau đó V không làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị P, số tiền có được V tiêu xài hết.

    V chiếm đoạt của chị P số tiền là: 20.000.000đồng.

  3. Đối với bị hại Võ Thanh V2: Anh Võ Thanh V2 được ông C2 cho một diện tích đất trong thửa đất số: 542, tờ bản đồ số: 14, tại xã T, thành phố T để xây nhà ở. Tháng 01/2021, ông V2 nhờ Trần Thanh V làm thủ tục tách thửa, V đồng ý và nói chi phi hết 60.000.000đồng. Nghe vậy, anh V2 đồng ý và giao cho V số tiền là 50.000.000đồng. Sau khi nhận tiền của V2 thì V không thực hiện các dịch vụ công về đất mà chiếm đoạt số tiền trên để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. V chiếm đoạt của anh V2 số tiền là: 50.000.000đồng.

  4. Đối với bị hại Phan Thị T6: Tháng 4/2021, Phan Thị T6 có nhờ V làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới đối với thửa đất số: 8954 ODT97.1, tại phường T, thành phố T. V nhận của chị T6 số tiền là: 10.000.000đồng. Tuy nhiên, V không thực hiện các thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho chị T6, mà sử dụng số tiền này vào mục đích tiêu xài cá nhân hết. V chiếm đoạt của chị T6 số tiền là: 10.000.000 đồng.

  5. Đối với bị hại Phạm Quốc N3: Năm 2020, 2021, Trần Thanh V nhận của Phạm Quốc N3 số tiền 60.000.000 đồng để thực hiện các dịch vụ công về đất, cụ thể như sau:

    Ngày 04/5/2021, anh Phạm Quốc N3 nhờ V tách thửa đất số: 265, tờ bản đồ số: 30, địa chỉ tại xã T, thành phố T cho anh Trần Văn H6, nội dung là tách ra làm hai thửa. Sau khi xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xong V đồng ý và nói chi phí hết số tiền: 50.000.000 đồng. Sau đó, V mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xuống phòng C4 để làm thủ tục, nhưng không thực hiện được. Số tiền có được V đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.

    - Thời gian tháng 10/2020, N3 nhờ V làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho thửa đất số: 156, tờ bản đồ số: 23, địa chỉ tại xã T, T của anh Phạm Văn H7 (sinh năm 1975, trú tại xã T, T). V nói giá là 10.000.000 đồng, anh N3 đồng ý và giao tiền cho V. Sau khi nhận tiền của anh N3, Vũ lập hợp đồng ủy quyền với anh H7 để thực hiện các dịch vụ công về đất. Trần Thanh V nộp hồ sơ và nộp tại UBND xã T đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với thửa đất này. Ngày 04/8/2021, UBND xã T có công văn số: 117/UBND-ĐC trả lời công dân là “Không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và trả hồ sơ cho công dân.

    Như vậy, trong tổng số tiền 60.000.000 đồng V nhận từ anh N3 thì đối với việc làm giấy tờ đất cho anh H7, thực tế xác minh V có thực hiện nhưng không làm được. Đối với việc V nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H6 để thực hiện thủ tục tách thửa. Thực tế thì V có dẫn anh Trần Văn H6 đến Văn phòng C3 để làm thủ tục sang tên; nhưng sau đó V không thực hiện bất kỳ thủ tục gì để thực hiện việc tách thửa cho anh H6. Do vậy, số tiền 60.000.000 đồng V nhận từ anh anh N3 thì 50.000.000 đồng là tiền V chiếm đoạt của anh N3. Ngoài ra, cũng trong năm 2020, Trần Thanh V nhiều lần mượn tiền của anh N3 tổng số tiền mượn là 220.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân và sử dụng số tiền 100.000.000 đồng dùng để mua đất tại Quảng Ngãi. Khi mượn V không nói mục đích mượn làm gì, do vậy đây là giao dịch dân sự giữa Phạm Quốc N3 và Trần Thanh V.

    Tổng số tiền mà V đã chiếm đoạt của anh Phạm Quốc N3 là: 50.000.000 đồng.

Bị cáo Trần Thanh V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Bản cáo trạng số 78/CT-VKS-P2 ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Trần Thanh Vũ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HS-ST ngày 14 - 9 - 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh V 08 (T7) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 07/01/2022).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm.

[3] Kháng cáo:

Ngày 22-9-2023 bị cáo Trần Thanh V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, trình bày lý do kháng cáo là do hiện nay gia đình có hoàn cảnh khó khăn, xác định vẫn phải trả nợ cho các bị hại chứ không chạy trốn tránh nợ, xin được giảm hình phạt để sớm ra tù làm ăn trả nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến: tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi phạm tội:

Trong thời gian từ năm 2020 đến năm 2021, bị cáo Trần Thanh V không công tác tại các cơ quan chức năng có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ công về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cũng như không có đầy đủ các điều kiện để thực hiện các dịch vụ công về đất, nhưng Trần Thanh V đã đưa ra thông tin gian dối là V có khả năng thực hiện các dịch vụ công về đất để những người bị hại tin tưởng thoả thuận hợp đồng dịch vụ với V. Sau khi nhận tiền của các bị hại, Trần Thanh V không thực hiện bất kỳ công việc gì theo như thoả thuận tách thửa, hợp thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất... mà chiếm đoạt tiền của các bị hại để tiêu xài cá nhân và trả tiền vay lãi suất ngân hàng và không có khả năng trả lại tiền cho các bị hại. Với thủ đoạn nêu trên, V đã nhận và chiếm đoạt của 15 bị hại với tổng số tiền là 910.000.000 đồng, gồm: ông Ngô X số tiền 200.000 đồng; ông Trần Tấn H số tiền 30.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị H1 số tiền 85.000.000 đồng; ông Nguyễn D số tiền 150.000.000 đồng; ông Trần Văn D1 số tiền 80.000.000 đồng; ông Đỗ Phú H3 số tiền 65.000.000 đồng; ông Trần T1 số tiền 10.000.000 đồng; ông Trần Lê T2 số tiền 70.000.000 đồng; ông Nguyễn H5 số tiền 20.000.000 đồng; ông Trần A Bằng số tiền 35.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị T5 số tiền 35.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị P số tiền 20.000.000 đồng; ông Võ Thanh V2 số tiền 50.000.000 đồng; bà Phan Thị T6 số tiền 10.000.000 đồng; ông Phạm Quốc N3 số tiền 50.000.000 đồng.

Ngoài ra, Trần Thanh V còn dùng thủ đoạn gian dối để vay, mượn tiền của 02 bị hại khác với số tiền 256.000.000 đồng, gồm: bà Đinh Thị T3 số tiền 166.000.000 đồng và bà Đoàn Thị Kim Q1 số tiền 90.000.000 đồng.

Tổng số tiền mà bị cáo Trần Thanh V đã chiếm đoạt của các bị hại là: 1.166.000.000 đồng. Bản án sơ thẩm quyết định bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:

Bị cáo Trần Thanh V là người có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật để nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng bị cáo vẫn lợi dụng vào sự cả tin của người khác, hứa hẹn rồi nhiều lần chiếm đoạt của nhiều người bị hại với số tiền lớn để phục vụ cho lợi ích cá nhân. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra không những trực tiếp xâm hại về tài sản của bị hại mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 17 bị hại với số tiền chiếm đoạt mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình nộp số tiền 50.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả; có một số bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, Bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xử phạt bị cáo 08 năm tù là đã có phần nhẹ, bởi bị cáo chỉ mới bồi thường khắc phục hậu quả các cho bị hại là rất nhỏ so với số tiền chiếm đoạt; Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[3] Các quyết định khác còn lại của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét. Việc Thi hành án được thực hiện theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.

[4] Về án phí: Bị cáo Trần Thanh V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thanh V, giữ nguyên hình phat của Bản án hình sự sơ thẩm.

  2. Về trách nhiệm hình sự:

    Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh V 08 (T7) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 07/01/2022).

  3. Các quyết định khác còn lại của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị. Việc Thi hành án được thực hiện theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh V phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Phòng HSNV - Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Cơ quan CSTHAHS - Công an Quảng Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Nam;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Nam;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Tấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 547/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 547/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thanh V, giữ nguyên hình phat của Bản án hình sự sơ thẩm. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh V 08 (T7) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 07/01/2022).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger