TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 546/2024/HSPT Ngày 10 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Tửu
ông Hà Huy Cầu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Trần Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 312/2024/HSPT ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Đậu Thị T, do bản án hình sự sơ thẩm số: 102/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 522/2024/QĐPT-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024.
Bị cáo kháng cáo:
Đậu Thị T; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1958 tại: tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Không; Nơi thường trú: Tổ H, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nơi tạm trú: Phòng 1906, chung cư S, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Cha: Đậu Văn Q (chết); Mẹ: Ngô Thị N; (chết); Chồng: Đặng Văn T1 (chết); có 02 người con, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã, bị tạm giam từ ngày 31/5/2022 đến nay.
Bị cáo vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Trung C Thuộc Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.
Bị hại có kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Trúc V, sinh năm 1979;
Địa chỉ: 2 B, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Nguyễn Quốc A, thuộc Công ty L2 và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: Phòng S1, F M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Chí Q1, sinh năm 1956;
Địa chỉ: 5 C, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhà số H đường N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Đặng Ngọc T2 đứng tên chủ sở hữu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở số CH02624 ngày 14/8/2012 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Tháng 10/2015, ông T2 và vợ là bà Lâm Thị G đi Ukraina làm việc nên giao nhà địa chỉ số H đường N cho mẹ ruột ông T2 là Đậu Thị T ở và trông coi.
Trong thời gian ở tại nhà này, khoảng năm 2016 do thiếu nợ nhiều người nên T thuê người đến nhà địa chỉ số H đường N phá két sắt của vợ chồng ông T2, bà G lấy bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở đối với nhà địa chỉ số H đường N, Phường A, quận T cùng với giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký kết hôn của vợ chồng ông T2, bà G bản photo rồi đưa cho các đối tượng N1, T3, M và N2 (chưa rõ lai lịch) và cùng các đối tượng trên thuê người đóng giả vợ chồng ông T2, bà G để ký hợp đồng ủy quyền đối với nhà, đất địa chỉ số H đường N cho T được toàn quyền định đoạt... đối với nhà này (Bút lục số 214; 215; 218; 296)
Ngày 14/01/2016, Đoàn Thị N3, T3, M, N2 và 02 người (chưa rõ lai lịch) được thuê đóng giả vợ chồng ông T2, bà G cùng T đến Văn phòng công chứng Chợ lớn, địa chỉ số D đường H, Phường A, Quận E ký Hợp đồng ủy quyền số 000594 với nội dung “Bên ủy quyền gồm Đặng Ngọc T2 và Lâm Thị G ủy quyền cho Đậu Thị T được ...thế chấp, chuyển nhượng, tặng, cho....đối với toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại ...H đường N, Phường A, quận T” (Bút lục số 293-295; 430-432).
Khi có giấy ủy quyền trên, cùng ngày 14/01/2016, T đến Phòng C3 tại 9 N, phường G, Quận E, ký hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số 00928 ngày 14/01/2016 đối với căn nhà địa chỉ số H N, phường A, quận T cho bà Nguyễn Thị Trúc V với số tiền là 1.000.000.000 đồng; tuy nhiên tại Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở ghi ngày 14/01/2016 (hợp đồng tay không có công chứng), đối với nhà, đất địa chỉ số H đường N, phường A, quận T thì T và bà V cùng xác định: “...giá mua bán, chuyển nhượng
toàn bộ thực tế là 4.500.000.000 đồng. Hai bên đồng ý khi ra công chứng hợp đồng mua bán là 1.000.000.000 đồng”, cùng ngày 14/01/2016, cả 2 lập biên nhận và T đã ký xác nhận đã nhận số tiền 4.500.000.000 đồng từ bà V, đồng thời T ký xác nhận vào cam kết với nội dung “... việc bà T chuyển nhượng (bán) nhà số H N, phường A, quận T cho bà V là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hoặc bị ép buộc...” (Bút lục số 379, 380, 381, 383). Do nhà địa chỉ số H đường N, T đang cho Công ty D, đại lý vé máy bay thuê nhưng chưa hết hợp đồng nên T đề nghị bà V cho T thuê lại nhà trên với giá 15.000.000 đồng/1tháng, bắt đầu từ ngày 14/01/2016 đến 22/10/2016 (thể hiện bằng 6 hợp đồng cho thuê nhà), bà V đồng ý và cả 2 lập hợp đồng thuê nhà và tại mục chữ ký của bên thuê nhà T đã ký và ghi họ tên (Bút lục số 243, 244, 245). Ngày 22/7/2016, bà V đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T đăng bộ đứng tên chủ sở hữu đối với nhà, đất trên (Bút lục số 400, 402). Đến ngày 22/10/2016, khi hợp đồng cho thuê nhà địa chỉ số H đường N giữa bà V và T hết hạn, bà V nhiều lần đến tìm gặp T để yêu cầu giao nhà như thỏa thuận nhưng không gặp được T. Sau đó bà V gặp được vợ chồng ông T2 và bà G cho biết nhà trên của vợ chồng ông T2 và bà G, họ không ký hợp đồng ủy quyền cho T chuyển nhượng, mua bán, đồng thời ông T2, bà G cho biết ngày 21/9/2016 ông T2 đã làm đơn tố cáo T tại Công an quận T. Ngày 06/6/2019, bà V làm đơn tố cáo T gửi Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Bút lục số 235; 236; 190; 191; 192). Bà V xác định nhà, đất địa chỉ số H đường N bà V mua của T do một người môi giới nhà đất (chưa rõ lai lịch) điện thoại giới thiệu; bà V không cho T vay, mượn tiền (Bút lục số 304, 305, 306).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Đậu Thị T thừa nhận cùng đồng bọn thuê người đóng giả vợ chồng ông T2, bà G để ký hợp đồng ủy quyền cho T được toàn quyền thế chấp, chuyển nhượng...đối với nhà địa chỉ số H đường N, mục đích để T thế chấp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở đối với nhà địa chỉ số H đường N, Phường A, quận T để vay tiền trả nợ, T không thừa nhận việc bán nhà, đất địa chỉ số H đường N cho bà Nguyễn Thị Trúc V, mà khai: Do cần tiền trả nợ nên T hỏi vay bà V số tiền 1.000.000.000 đồng, bà V đồng ý cho vay với lãi suất 2,5%/1 tháng. Để đảm bảo khoản vay trên ngày 14/01/2016 T ký hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số 00928 ngày 14/01/2016 (Hợp đồng có công chứng) đối với căn nhà địa chỉ số H đường N, Phường A, quận T cho bà Nguyễn Thị Trúc V với số tiền là 1.000.000.000 đồng, T đã đóng lãi suất vay 3 tháng là 75.000.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục vay mượn bà V số tiền 1.800.000.000 đồng, với lãi suất 0,2%/1 tháng; bà V yêu cầu T ký vào Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở ghi ngày 14/01/2016 (hợp đồng tay không có công chứng), đối với nhà, đất địa chỉ số H đường N, Phường A, quận T với giá 4.500.000.000 đồng. Do cần tiền trả nợ nên T đã ký vào hợp đồng này, mục đích của bà V nếu T không có khả năng trả nợ tổng số tiền vay 2.800.000.000 đồng trên thì bà V sẽ mua lại nhà địa chỉ số H đường N với giá 4.500.000.000 đồng theo như giá tại hợp đồng mua bán trên (Bút lục số 293, 294). Tuy nhiên, T không chứng minh được việc bà V cho T vay, mượn số tiền nêu trên,
và các hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số 00928 ngày 14/01/2016 (Hợp đồng có công chứng và hợp đồng không có công chứng) là hợp đồng giả cách để đảm bảo khoản vay trên (Bút lục số 297, 298).
Tại Bản kết luận giám định số 51/KLGĐ-TT ngày 07/12/2016 của Phòng K-Công an Thành phố H kết luận:
“1.1. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên “Đặng Ngọc T2” dưới mục “Bên ủy quyền (bên A)” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký của Đặng Ngọc T2 dùng làm mẫu so sánh trên các tài liệu ký hiệu M1 có phải do cùng một người ký ra hay không.
1.2. Chữ viết họ tên “Đặng Ngọc T2” và chữ viết có nội dung “Đã đọc và đồng ý” dưới mục “Bên ủy quyền (bên A)” trên tài liệu cần giám định ký hiệu Al so với chữ viết của Đặng Ngọc T2 dùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M1 không phải do cùng một người viết ra.
1.3. Hai dấu vân tay đứng tên “Đặng Ngọc T2” dưới mục “Bên ủy quyền (bên A)” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với dấu vân tay của Đặng Ngọc T2 dùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M2 không phải là dấu vân tay của cùng một người.
1.4. Chữ ký đứng tên “Lâm Thị G”, chữ viết họ tên “Lâm Thị G” và chữ viết có nội dung “Đã đọc và đồng ý” dưới mục “Bên ủy quyền (bên A)” trên tài liệu cần giám định ký hiệu Al so với chữ ký, chữ viết của Lâm Thị G dùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M7 không phải do cùng một người ký, viết ra.
1.5. Hai dấu vân tay đứng tên “Lâm Thị G” dưới mục “Bên ủy quyền (bên A)” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với dấu vân tay của Lâm Thị G dùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M8 không phải là dấu vân tay của cùng một người.
1.6. Chữ ký đứng tên “Đậu Thị T”, chữ viết họ tên “Đậu Thị T” và chữ viết có nội dung “Đã đọc và đồng ý” dưới mục “Bên được ủy quyền (bên B)” trên “Hợp đồng ủy quyền” cần giám định ký hiệu A1 và dưới mục “Bên A” trên “Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở” cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của Đậu Thị T dùng làm mẫu so sánh trên các tài liệu ký hiệu M4, M6 do cùng một người ký, viết ra.
1.7. Hai dấu vân tay đứng tên “Đậu Thị Thái” dưới mục “Bên được ủy quyền (bên B)” trên tài liệu cần giám dinh ký hiệu A1 và dưới mục “Bên A” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với dấu vân tay của Đậu Thị T dùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M5 là dấu vân tay của cùng một người” (Bút lục số 371, 372).
Tại Bản kết luận giám định số 1788/KLGĐ-TT ngày 23/3/2021 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận:
“- Chữ ký, chữ viết họ tên “Đậu Thị Thái” trên Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở viết tay đề ngày 14/01/2016, 02 giấy biên
nhận đề ngày 14/01/2016 (giấy xác nhận đã nhận 1.000.000.000 đồng và giấy xác nhận đã nhận số tiền 4.500.000.000 đồng), giấy cam kết đề ngày 14/01/2016, Hợp đồng thuê nhà số A đề ngày 14/01/2016, Hợp đồng thuê nhà số B đề ngày 13/3/2016, Hợp đồng thuê nhà số C đề ngày 13/4/2016, Hợp đồng thuê nhà số D đề ngày 13/5/2016, Hợp đồng thuê nhà số E đề ngày 13/6/2016, Hợp đồng thuê nhà đề ngày 22/8/2016, Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 00928 lập ngày 14/01/2016 tại Văn phòng C4, địa chỉ số I - 96 đường N, Phường G, Quận E (bản chính lưu tại Phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh) so với chữ ký, chữ viết của Đậu Thị T trên Biên bản thu thập chữ ký, chữ viết của Đậu Thị T lập ngày 16/11/2016, chỉ bản không số lập ngày 16/11/2016 do cùng một người ký và viết ra.
- Dấu vân tay bên trái chữ ký mang tên “Đậu Thị T” trên Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở viết tay đề ngày 14/01/2016, giấy biên nhận đề ngày 14/01/2016 (giấy biên nhận số tiền 4.500.000.000 đồng) mờ nhòe không đủ yếu tố giám định.
- Dấu vân tay bên phải chữ ký mang tên “Đậu Thị Thái” trên Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở viết tay đề ngày 14/01/2016, giấy biên nhận đề ngày 14/01/2016 (biên nhận số tiền 1.000.000.000 đồng), dấu vân tay tại chữ ký mang tên “Đậu Thị T” giấy biên nhận đề ngày 14/01/2016 (biên nhận số tiền 4.500.000.000 đồng), giấy cam kết đề ngày 14/01/2016, Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 00928 lập ngày 14/01/2016 tại Văn phòng C4, địa chỉ số I - I N, Phường G, Quận E (bản chính lưu tại Văn phòng C4-Thành phố Hồ Chí Minh) so với chỉ bản không số lập ngày 16/11/2016 là dấu vân tay của cùng một người” (Bút lục số 378).
Tại Bản kết luận giám định số 5279/KLGĐ-TT ngày 26/10/2021 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận:
“+ Chữ viết nội dung ở mặt sau tờ giấy lịch in ngày 14/9/2016, có nội dung: “Chị xin lỗi Đại gia đình_Cùng các con cháu của chị, C1 đã gây ra quá nhiều tội lỗi. Vì công nợ chị lấy toàn bộ sổ sách nhà của các con ở trong két chị đi thế chấp vay mượn qua Trung tâm D1.Phúc Chu P15_QTB. Qua cô Ngân A1.M. đt: A.M: 0903.376.xxx Cô N. Dính vào xã hội đen quá nhiều c phải đi”; “Mẹ sống chỉ mang thêm nghiệp cho các con Mẹ quyết định ra đi các con không phải buồn_Đứt 1 gây_Đau 1 giờ_Mẹ đến nhà C2 để C2 lo liệu xác cho mẹ theo nguyện vọng cuối thiêu xác rải ra biển” (do ông Đậu Văn B cung cấp) so với chữ viết của Đậu Thị T trên Bản tường trình đề ngày 22/9/2016, Bản tường trình đề ngày 23/9/2016, 01 tờ giấy khổ A4 có chữ ký, chữ viết của Đậu Thị T đề ngày 16/11/2016 là do cùng 01 người viết ra” (Bút lục số 397).
Tại Bản kết luận giám định số 5463/KLGĐ-TT ngày 19/10/2021 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: “Bản in phôi Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHN ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên ông Trần Văn L, bà Trần Thị Thu S đã cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Trúc V (do bà V giao nộp) là giấy
thật” (Bút lục số 399)
Tại Bản kết luận giám định số 1477/KLGĐ-TT ngày 22/11/2017 của Phòng K - Công an T, kết luận: “Hai dấu vân tay đứng tên “Lâm Thị G” dưới mục “Bên ủy quyền (bên A) trên hợp đồng công chứng số 000594 ngày 14/01/2016 của Văn phòng C6 so với hai dấu vân tay ngón trỏ trái, trỏ phải của Trần Thanh N4 là dấu vân tay của cùng một người” (Bút lục số 374)
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Trúc V yêu cầu T giao nhà địa chỉ số H đường N, Phường A, quận T cho bà V, nếu không giao nhà thì phải trả lại 4.500.000.000 đồng cho bà V. Bị cáo T chưa thực hiện. (Bút lục số 245).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 102/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm a, khoản 4, Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đậu Thị T: 17 (mười bảy) năm tù, về tội “Lừa đảo đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/3/2024 bị hại bà Nguyễn Thị Trúc V làm đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và đề nghị khởi tố vụ án về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” đối với công chứng viên Nguyễn Chí Q1.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị hại bà Nguyễn Thị Trúc V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và đề nghị khởi tố vụ án về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” đối với công chứng viên Nguyễn Chí Q1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ, và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, đã đủ căn cứ xác định: Toà sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Đậu Thị T: 17 (mười bảy) năm tù, về tội “Lừa đảo đoạt tài sản” theo điểm a, khoản 4, Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Xét kháng cáo của bị hại, căn cứ tài liệu hồ sơ và lời khai của bị cáo, xuất phát từ việc trả nợ, tiêu xài cá nhân, bị cáo không phải là chủ sở hữu của căn nhà nhưng đã cung cấp CMND có công chưng cho các đối tượng khác để đóng giả ông T2 bà G là chủ sở hữu của căn nhà, cùng ngày bị cáo công chứng hợp đồng ủy quyền và hợp đồng mua bán với bà V. Tại biên bản kết
luận dấu vân tay trên các hợp đồng không phải cùng một người ký, viết ra. Từ đó có căn cứ xác định bị cáo T phạm tội. Quá trình điều tra bị cáo T đã khắc phục 50 triệu đồng. Tòa sơ thẩm xét xử bị cáo 17 năm tù là tương xứng với hành vi của bị cáo. Đối với kháng cáo khởi tố công chứng viên, tòa sơ thẩm đã trả hồ sơ điều tra bổ sung, quá trình điều tra cơ quan điều tra công an đã xác định công chứng Q1 khi xác minh các giấy tờ theo quy định tại Luật công chứng, ông Q1 không hưởng lợi từ việc công chứng hợp đồng này. Lời khai của ông Q1 và bị cáo T thể hiện bị cáo T đã có hành vi lừa đảo, lừa đảo luôn ông Q1, bên cạnh đó Cơ quan điều tra chưa lấy được lời khai của nhóm đối tượng được bị cáo thuê nên không có căn cứ xử lý hành vi thiếu trách nhiệm đối với ông Q1. Từ những căn cứ trên, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị cáo chưa bị bắt.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đồng ý với quan điểm của vị đại diện viện kiểm sát, đối với kháng cáo của bị hại cho rằng bị cáo không ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo là trái ngược với hồ sơ vụ án, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị hại trình bày: không đồng ý với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát và luật sư bào chữa cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với bị cáo T và khởi tố vụ án về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” đối với công chứng viên Nguyễn Chí Q1.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư và của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo của bị hại bà Nguyễn Thị Trúc V: Đơn kháng cáo của bị hại làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Mặc dù vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm. Nhưng qua các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở xác định:
Mặc dù nhà, đất tại địa chỉ số H đường N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh không phải là tài sản do Đậu Thị T là chủ sở hữu nhưng vào ngày 14/01/2016, Đậu Thị T đã cùng các đối tượng khác(Chưa rõ lai lịch và chưa ghi được lời khai) đã có hành vi gian dối, thuê người đóng giả ông Đặng Ngọc T2 và bà Lâm Thị G là chủ sở hữu nhà, đất tại địa chỉ H đường N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, để ký Hợp đồng ủy quyền tại Phòng C7 cho T được toàn quyền định đoạt đối với nhà, đất địa chỉ số H đường N. Cùng ngày, tại phòng C3, T đã ký hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất này cho bà Nguyễn Thị Trúc V chiếm đoạt số tiền 4.500.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đậu Thị T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 như Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến tính đúng đắn của cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính về con dấu; gây mất trật tự, trị an xã hội. Xét cần có mức án nghiêm nhằm cải tạo giáo dục riêng đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[4] Xét kháng cáo của bị hại đề nghị tăng hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt Tòa sơ thẩm có xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn hối cải. Gia đình bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu, Xét Tòa sơ thẩm đã xử bị cáo Đậu Thị T: 17 (mười bảy) năm tù, về tội “Lừa đảo đoạt tài sản” theo điểm a, khoản 4, Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị hại kháng cáo tăng hình phạt nhưng không phát sinh thêm tình tiết gì mới. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại về phần hình phạt.
[5] Xét kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Trúc V cho rằng hành vi của công chứng viên Nguyễn Chí Q1 là thiếu trách nhiệm khi thực hiện công chứng Hợp đồng ủy quyền gây hậu quả nghiêm trọng nên đề nghị khởi tố vụ án về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã trả hồ sơ đề nghị làm rõ trách nhiệm của công chứng viên Nguyễn Chí Q1 trong việc xác nhận hợp đồng uỷ quyền và xem xét dấu hiệu phạm tội của bà Đoàn Thị N3, nhưng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm. Vì vậy, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục xem xét trách nhiệm của ông Nguyễn Chí Q1 và bà Đoàn Thị N3.
Vậy, nên trong phạm vi xét xử Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiếp tục kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục xem xét trách nhiệm của ông Nguyễn Chí Q1 và bà Đoàn Thị N3 theo quy định pháp luật.
[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại bà Nguyễn Thị Trúc V. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
Áp dụng điểm a, khoản 4, Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đậu Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt bị cáo Đậu Thị T: 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2022.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tiếp tục xem xét trách nhiệm của công chứng viên Nguyễn Chí Q1 và bà Đoàn Thị N3 theo quy định pháp luật
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |
10
Bản án số 546/2024/HSPT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 546/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị hại
