TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 546/2024/HS-ST Ngày: 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn
- Ông Võ Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 511/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8679/2024/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Sa N: sinh năm 1982, tại Long An; Giới tính: Nữ; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: 340 Nguyễn Thị Đ, tổ A, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1959; Gia đình có hai chị em, bị cáo là con lớn nhất; có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, Tiền sự: Không; Đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2023.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Lê Phương T2, sinh năm 1990.
Địa chỉ: F Q, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Doanh nghiệp tư nhân K Bà C
- Địa chỉ: C B, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang T3, sinh năm 1985.
Địa chỉ: 1 N, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- - Công ty TNHH K1
- Địa chỉ: Đường H, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: ông Phan Duy A, sinh năm 1994
Địa chỉ: Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- - Công ty Hoàng Lê Phú
- Địa chỉ: 232/17 C, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: ông Đinh Phú H, sinh năm 1978
Địa chỉ: 6 khu phố T, T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Sa N và chị Lê Phương T2 (sinh năm 1990) là bạn với nhau. Chị T2 cho N ở nhờ tại nhà mình số F, Quốc lộ A, Khu phố D, phường H, thành phố T. Có lần N dọn phòng ngủ cho chị T2 thì nhìn thấy chị T2 để vàng trong hộc tủ đựng nữ trang. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/10/2023, trong lúc N đang dọn phòng ngủ của chị T2 thì phát hiện chùm chìa khóa tủ đựng nữ trang để trong hộc bàn trang điểm. Do cần tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ nên N nảy sinh ý định lấy trộm vàng của chị T2. N lấy chìa khóa mở hộc tủ đựng nữ trang của chị T2 ra, N nhìn thấy trong tủ có tiền và một túi vải màu đỏ-vàng có dây rút màu vàng bên trong có đựng nữ trang và nhẫn vàng. N dùng tay mở dây rút ra lấy 02 chiếc nhẫn vàng trơn 24K loại 9999, mỗi chiếc nhẫn có trọng lượng một lượng và cất vào túi quần phía trước bên phải. Sau đó, N đón xe G đi đến tiệm V Bà C, địa chỉ số C, B, Phường B, quận B gặp Nguyễn Quang T3 (sinh năm 1985) là quản lý để bán. Khi đó, N lấy vàng trong túi quần ra thì phát hiện bị rơi mất 01 chiếc nhẫn vàng còn lại 01 chiếc nhẫn vàng. N bán chiếc nhẫn vàng còn lại cho tiệm V Bà C với giá 57.300.000 đồng/01 lượng. Sau khi bán vàng. N lấy tiền mua trả góp 01 tủ mát hiệu Sanaky tại Công ty Đ1, địa chỉ: 2, C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và trả trước số tiền 4.000.000 đồng; 01 ti vi hiệu TCL, 55inch tại Công ty TNHH K1 và trả trước số tiền 1.510.000 đồng; mua 01 đôi bông tai bằng vàng tại tiệm V Bà C với số tiền 2.100.000 đồng. Số tiền còn lại N tiêu xài cá nhân và giữ lại 1.800.000 đồng. Đến ngày 04/11/2023, chị T2 lấy đồ nữ trang để kiểm tra thì phát hiện 02 nhẫn bằng vàng trơn (mỗi nhẫn có trọng lượng 01 lượng) bị mất trộm nên đến Công an phường H trình báo.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã đưa Nguyễn Thị Sa N về làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Thị Sa N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. (BL. 17-18, 46-73, 74, 75, 108)
Tại Kết luận định giá tài sản số 166-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 02 (hai) nhẫn bằng vàng 9999, mỗi nhẫn có trọng lượng 01 lượng vàng, trị giá 117.800.000 đồng (BL 38).
Vật chứng của vụ án:
- - 02 (hai) nhẫn bằng vàng 9999 không thu hồi được;
- - 01 (một) tủ mát hiệu Sanaky, model VH-408W3L (đã qua sử dụng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho anh Đinh Phú H (sinh năm 1978 là người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ1). Anh H đã giao nộp lại số tiền 4.000.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T;
- - 01 (một) ti vi hiệu TCL, 55inch (đã qua sử dụng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho anh Phan Duy A (sinh năm 1994; là người đại diện theo pháp luật và Công ty TNHH K1). Anh A đã giao nộp số tiền 1.510.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T;
- - 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng trên mặt có gắn nhiều hột đá nhỏ màu trắng và 01 hột đá lớn màu trắng;
- - Số tiền 1.800.000 đồng.
Trách nhiệm dân sự: chị Lê Phương T2 yêu cầu Nguyễn Thị Sa N bồi thường tài sản đã chiếm đoạt bằng vàng.
Đối với Nguyễn Quang T3 là quản lý của tiệm V Bà C đã mua nhẫn vàng của Nguyễn Thị Sa N nhưng T3 không biết tài sản này là do N trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý T3 là có cơ sở.
Cáo trạng số 481/CT-VKSTP Thủ Đức ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thị Sa N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như Bản cáo trạng số 481/CT-VKSTPTĐ ngày 03/10/2024 và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Sa N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Sa N mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Giao trả cho bị cáo: số tiền anh H đã giao nộp 4.000.000 đồng, anh A đã giao nộp 1.510.000 đồng, và 1.800.000 đồng, 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng trên mặt có gắn nhiều hột đá nhỏ màu trắng và 01 hột đá lớn màu trắng. Tuy nhiên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt và đồng ý bồi thường 02 lượng vàng 9999 theo đơn giá thị trường (giá mua vào) ngày 29/10/2024 là 87.000.000 đồng/lượng x 02 lượng = 174.000.000 đồng cho bị hại ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Sa N tại phiên tòa phù hợp với nội dung lời khai của bị hại, phù hợp với nội dung lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: vào 16 giờ 30 phút ngày 31/10/2023, tại địa chỉ số F, Quốc lộ A, Khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thị Sa N đã lợi dụng sự sơ hở của chị Lê Phương T2 để lén lút chiếm đoạt 02 nhẫn bằng vàng 9999 có giá trị còn lại là 117.707.000 đồng. Là Nguyễn Thị Sa N đã phạm tội Trộm cắp tài sản trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Nguyễn Thị Sa N là người có sức khỏe có điều kiện để lao động để có thu nhập, nhưng bị cáo không làm ăn lương thiện, để có tiền tiêu xài cho bản thân, bị cáo Nguyễn Thị Sa N đã chiếm đoạt 02 nhẫn bằng vàng 9999 có giá trị còn lại 117.707.000 đồng của chị Lê Phương T2.
Hành vi trộm cắp tài sản do Nguyễn Thị Sa N thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, góp phần gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo đầy đủ thành khẩn có thái độ ăn năn hối lỗi. Do đó căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có phần phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận một phần.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường 02 lượng vàng 9999 theo đơn giá thị trường (giá mua vào) ngày 29/10/2024 là 87.000.000 đồng/lượng x 02 lượng = 174.000.000 đồng cho bị hại ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thỏa thuận là hoàn tự nguyện và không trái pháp luật nên công nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa, đổi bổ sung năm 2017:
- + Giao trả cho bị cáo số tiền 7.300.000 đồng, 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng trên mặt có gắn nhiều hột đá nhỏ màu trắng và 01 hột đá lớn màu trắng. Tuy nhiên đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- + Đối với 01 tủ mát hiệu Sanaky; 01 tivi hiệu TCL 55inch (đã qua sử dụng) Công ty Đ1 và Công ty TNHH K1 đã nhận lại và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không phải xem xét gì thêm.
Đối với Nguyễn Quang T3 là quản lý của tiệm V Bà C đã mua nhẫn vàng của Nguyễn Thị Sa N nhưng T3 không biết tài sản này là do N trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý T3 là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Sa N phạm Tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn Thị Sa N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2023.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
Giao trả cho bị cáo số tiền 7.300.000 đồng, 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng trên mặt có gắn nhiều hột đá nhỏ màu trắng và 01 hột đá lớn màu trắng. Tuy nhiên đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Tài sản tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án được ghi trong Biên bản giao nhận tang vật số 014C ngày 03/10/2024 và Giấy nộp tiền ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
3. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Công nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường của Nguyễn Thị Sa N đối với các chị Lê Phương T2 như sau:
Nguyễn Thị Sa N có trách nhiệm bồi thường: 174.000.000 đồng cho chị Lê Phương T2.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ phải thi hành chậm trả tiền thì bên đó phải chịu thêm khoản tiền bằng mức trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả.
Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Sa N phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 8.700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Viết Nghiêm |
Bản án số 546/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 546/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản
