Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 546/2023/DS-PT

Ngày: 06 - 11 - 2023

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

và yêu cầu hủy GCNQSD đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Duy Nhiệm;
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Hải;
Ông Phạm Đình Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Thắng - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 320/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy GCNQSD đất”.

Do Bản dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 11752/2023/QĐ-PT ngày 21/10/2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1936, có mặt;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1958;

Cùng Trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

* Bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1978, có mặt;

Trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh;

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà L: Bà Phạm Thị Thúy K và ông Lê Minh C, Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, đều có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) huyện N, tỉnh Hà Tĩnh;

    Người đại diện theo phám luật: Ông Lê Anh Dũng X, chức vụ: Chủ tịch UBND huyện N, có đơn xin xét xử vắng mặt.

  2. UBND thị trấn T;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức B, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thị trấn T, có đơn xin xét xử vắng mặt.

  3. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1958, có mặt;

    Trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

  4. Bà Trần Thị A, có đơn xin xét xử vắng mặt;

    Trú tại: Tổ H, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

  5. Bà Trần Thị T2, sinh năm 1967, có đơn xin xét xử vắng mặt;

    Trú tại: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

  6. Bà Trần Thị T3, sinh năm 1972, có đơn xin xét xử vắng mặt;

    Trú tại: Thôn H, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

  7. Bà Trần Thị M, sinh năm 1972, có đơn xin xét xử vắng mặt;

    Trú tại: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

  8. Ông Trần Văn T4, sinh năm 1974;

    Trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; hiện đang chấp hành án phạt tù tại trại giam X1.

* Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Thị L, có mặt.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Bà Ngô Thị T và ông Trần Văn H là vợ chồng (ông H mất ngày 28/5/2017); ông bà được bố mẹ để lại mảnh đất thuộc thửa số 167, tờ bản đồ số 17 có diện tích 1.040,9 m² tại tổ dân phố A, thị trấn T, huyện N, Hà Tĩnh. Năm 2017, con dâu Phạm Thị L đặt vấn đề muốn mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng (sau đây gọi tắt là GCNQSD) đất để vay vốn ngân hàng, ông bà đồng ý cho mượn để thế chấp cho ngân hàng vay vốn kinh doanh. Khi làm thủ tục vay vốn ông, bà có lăn tay chỉ điểm vào hồ sơ vay vốn tại nhà riêng ông bà vì ông bà không biết chữ. Năm 2021, bà T đòi lại GCNQSD đất thì mới biết bà L đã làm thủ tục tặng cho thửa đất của ông bà sang vợ chồng bà L, ông T4 và đã được UBND huyện N cấp GCNQSD đất mang tên ông Trần Văn T4 và bà Phạm Thị L. Do đó, bà Ngô Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án: Hủy GCNQSD số CG 292561 cấp ngày 03/7/2017 mang tên Trần Văn T4 và Phạm Thị L để trả lại đất cho bà Ngô Thị T.

Bị đơn Phạm Thị L trình bày: Bà và ông Trần Văn T4 là vợ chồng, ông T4 là con trai út của ông H, bà T. Khi ông H còn sống thì ngày 15/5/2017 ông H, bà T đã đồng ý tặng cho vợ chồng bà thửa đất số 167, tờ bản đồ số 17 có diện tích 1.040,9 m² tại tổ dân phố A, thị trấn T, huyện N, Hà Tĩnh nơi ông bà đang ở. Việc làm thủ tục tặng cho diện tích đất trên là do ông C1 cán bộ tư pháp và ông T5 - cán bộ địa chính xuống tại nhà ông bà để làm thủ tục tặng cho vợ chồng chị. Tại phiên tòa sơ thẩm chị L thay đổi lời khai cho rằng việc làm thủ tục tặng cho được thực hiện tại UBND thị trấn T. Bà T, ông H đều biết chữ và viết vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất. Ông H bà T đã cho vợ chồng bà đất nên đất đó giờ là của vợ chồng bà nên không đồng ý trả lại đất cho bà T.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1 trình bày:

Bố mẹ ông là Trần Văn H và bà Ngô Thị Tư s được 6 người con: Trần Thị A, Trần Thị T2, Trần Thị T3, Trần Thị M, Trần Văn T1, Trần Văn T4. Bà Phạm Thị L là vợ ông T4, ông T4 đang chấp hành án tại Trại giam X1 về tội Buôn bán vận chuyển pháo nổ. Bố mẹ ông được ông bà để lại 1 thửa đất số 167, tờ bản đồ số 17 có diện tích 1.040,9 m² tại Thôn A, xã T, huyện N, Hà Tĩnh (nay là Tổ dân phố A, thị trấn T). Năm 1992 ông xây 1 ngôi nhà cấp 4 diện tích 70m² trên đất cho bố mẹ ở; đến năm 1999 ông T4, bà L xây dựng 1 ngôi nhà bên cạnh diện tích 45 m² hiện nay tất cả đều do bà T quản lý, sử dụng. Trước đây bố mẹ ông cho bà L mượn bìa đất để vay vốn Ngân hàng. Sau này khi mẹ ông đòi lại bìa đất thì mới biết bà L đã làm thủ tục tặng cho vợ chồng L, T4. Bố mẹ ông chưa khi nào nói cho vợ chồng T4, L đất mà mẹ ông có điểm chỉ làm thủ tục cho bà L vay vốn Ngân hàng. Tại thời điểm làm thủ tục tặng cho đất là ngày 15/5/2017 bố ông đã ra viện và đang nằm điều trị tại nhà nằm 1 chỗ chờ chết vì bệnh ung thư gan, phổi giai đoạn cuối, đến ngày 28/5/2017 thì bố ông mất. Thời điểm ngày 15/5/2017 cả gia đình ông tập trung lo chăm sóc bố, và bố ông không còn minh mẫn nữa. Bố ông cũng không thể di chuyển lên UBND thị trấn T để làm thủ tục tặng cho như hợp đồng lập ngày 15/5/2017 tại UBND thị trấn T và bố mẹ đều không biết chữ, mù chữ và phát âm khó khăn. Do đó, chữ viết và chữ ký trong hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không phải của bố mẹ và 6 anh chị em đều không biết và ông không nhất trí tặng cho T4, L ngôi nhà ông xây. Nay bố ông đã chết nhưng ông không yêu cầu chia thừa kế phần đất của bố mà đề nghị Tòa án giao cho bà T, Hủy GCNQSD số CG 292561 cấp ngày 03/7/2017 mang tên Trần Văn T4 và Phạm Thị L. Trả lại đất cho bà Ngô Thị T quản lý sử dụng để làm nơi thờ tự ông bà tổ tiên, còn bản thân ông hiện nay cũng đang bị ung thư phải đi bệnh viện xạ trị theo lịch trình cũng không biết sống được bao lâu nữa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị A, Trần Thị T2, Trần Thị T3, Trần Thị M trình bày: Nhất trí như lời khai của ông T1; khi ông H còn sống chưa khi nào ông H, bà T nói cho vợ chồng T4, L đất và đồng thời cho rằng tại thời điểm bà L làm thủ tục tặng cho thửa đất trên thì tất cả những người trong nhà đều không ai biết. Thời gian đó ông H bị ung thư gan, phổi giai đoạn cuối nằm 1 chỗ trên giường không còn tỉnh táo nữa và cha mất ngày 28/5/2017.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn T4 trình bày: Bố ông là ông Trần Văn H bị mất vì bệnh ung thư. Sau khi ông về nước được 1 tháng thì ông H mất, thời gian đó ông H không còn tỉnh táo nữa và trong giai đoạn chờ chết, bố mẹ ông không biết chữ. Ông không biết việc bố mẹ cho vợ chồng đất và cũng không yêu cầu chia thừa kế đất của bố để lại. Ông đề nghị Tòa án xử theo quy định pháp luật.

UBND huyện N trình bày: GCNQSD đất cấp cho bà Ngô Thị T và ông Trần Văn H là đúng trình tự thủ tục đảm bảo quy định nên không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSD đất của nguyên đơn. Nếu trong hợp đồng tặng cho có vấn đề gì thì đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết.

UBND thị trấn T trình bày: Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của bà Ngô Thị T, ông Trần Văn H cho ông Trần Văn T4 bà Phạm Thị L được thực hiện đúng trình tự quy định pháp luật và đề nghị Tòa án xét xử theo quy định pháp luật.

Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Áp dụng Điều 26; khoản 1 Điều 34; Điều 37; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 167; Điều 117; Điều 119; Điều 125; khoản 1 Điều 127; Điều 457; Điều 459; Điều 502 của Bộ luật Dân sự; Điều 167; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 36 Nghị định số 23/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị T.
    • - Tuyên bố hợp đồng tặng cho QSD đất và tài sản trên đất ngày 15/5/2017 giữa bà Ngô Thị T, ông Nguyễn Văn H1 và bà Phạm Thị L, ông Trần Văn T4 vô hiệu.
    • - Hủy GCNQSD số CG 292561 do UBND huyện N cấp ngày 03/7/2017 mang tên Trần Văn T4, Phạm Thị L.

Bà Ngô Thị T có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp GCNQSD đất số thửa 167, số tờ bản đồ 17, bản đồ đo đạc năm 2014, diện tích 1.040,9 m², tại: tổ dân phố A, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn xử lý về án phí; tuyên quyền kháng cáo theo quy định; sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/6/2023 bị đơn là bà Phạm Thị L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Các đương sự trình bày:

  • - Bị đơn là bà Phạm Thị L có kháng cáo trình bày:

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ngày 15/5/2017 giữa bà Ngô Thị T, ông Trần Văn H với vợ chồng bà là hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật; cho dù ông H, bà T không biết chữ nhưng đã được cán bộ tư pháp đọc và giải thích, ông bà đã điểm chỉ vào hợp đồng, không có sự gian dối, nhầm lẫn. Việc cấp GCNQSD đất mang tên Trần Văn T4 và Phạm Thị L đã được đại diện UBND huyện N khẳng định là thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa bà T, ông H với bà L, ông T4.

  • - Phía nguyên đơn trình bày:

Giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, bản án sơ thẩm đã giải quyết đúng quy định của pháp luật, kháng cáo của bị đơn không có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  • - Luật sư Phạm Thị Thúy K, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà L trình bày:

Bản án sơ thẩm nhận định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không có thật là thiếu căn cứ, trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của bà L. Tòa án cấp sơ thẩm đã có nhiều vi phạm, đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, không thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án, như: Không thu thập hồ sơ bệnh án của ông Trần Văn H để xác định tình trạng bệnh tình của ông H; bởi vì ông H tham gia ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hơn một tháng sau ông mới chết, theo cán bộ tư pháp tại thời điểm này ông H vẫn tỉnh táo, nói chuyện được, không đến mức liệt giường. Bản án sơ thẩm xác định ông H, bà T không biết chữ là chưa đánh giá hết các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án; bởi vì, trong hồ sơ có một số tài liệu thể hiện có chữ ký của ông H; hơn nữa, theo ông T1 thì ông H là công nhân, được hưởng lương nên không thể không biết chữ được. Tại cấp sơ thẩm ông Trần Văn T4 (là chồng bà L) khai không biết, không ký vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nhưng tại cấp phúc thẩm ông T4 đã có văn bản trình bày lại thừa nhận có việc bố, mẹ ông tặng cho vợ chồng ông thửa đất trên, và ông có ký vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đó, sau khi được tặng cho thì chính bà L và ông T4 đã thế chấp thửa đất để vay vốn Ngân hàng; Tòa án cấp sơ thẩm đã không xác minh làm rõ, cũng như không trưng cầu giám định đối với chữ ký của ông H, bà T trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Do đó, có đủ căn cứ xác định việc ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông H, bà T với ông T4, bà L là có thật; ông H, bà T cũng như ông T4, bà L có ký tên và điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của ông Bình n là Chủ tịch UBND thị trấn T cho rằng ông H, bà T không ký vào hợp đồng tặng cho là thiếu căn cứ. Hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất được thực hiện theo hướng dẫn của UBND thị trấn, nên có thể do cán bộ UB tự ghi ngày vào nên có sự mâu thuẫn về mặt thời gian giữa hợp đồng tặng cho với biên bản kiểm tra; UBND huyện N khẳng định việc cấp GCNQSD đất cho ông T4, bà L được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục.

Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, đánh giá toàn diện vụ án để chấp nhận kháng cáo của bà L, sửa bản án sơ thẩm để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông H, bà T với ông T4, bà L.

  • - Luật sư Lê Minh C bổ sung:

Đồng tình với quan điểm của Luật sư K. Trong hồ sơ có 02 giấy xác nhận ngày chết của ông Trần Văn H nhưng chưa được điều tra, làm rõ; tại cấp phúc thẩm ông T4 thay đổi lời khai cho rằng có sự tặng cho quyền sử dụng đất; bà L, ông T4 đã ở trên thửa đất hơn 23 năm không ai có ý kiến gì. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Hai bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đủ người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa phúc thẩm người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ thấy rằng cấp sơ thẩm đã chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bà L kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ gì mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền và xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp: Bà Ngô Thị T khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà Phạm Thị L trả lại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.040,9m². Đây là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự; ngoài tranh chấp quyền sử dụng đất, thì nguyên đơn còn yêu cầu hủy GCNQSD đất mà UBND huyện N đã cấp cho ông Trần Văn T4 và bà Phạm Thị L; đây là quyết định hành chính cá biệt của UBND cấp huyện trong lĩnh vực quản lý đất đai, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 32 Luật Tố tụng hành chính và khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, mặc dù các đương sự trong vụ án không yêu cầu xem xét để hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa ông Trần Văn H và bà Ngô Thị T với ông Trần Văn T4 và bà Phạm Thị L nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xem xét tính hợp pháp và tuyên vô hiệu đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này là vượt quá phạm vi khởi kiện, nhưng việc sử dụng đất của ông T4, bà L xuất phát từ hợp đồng tặng cho này, nên nếu muốn xem xét ông T4, bà L sử dụng đất hợp pháp hay không vẫn phải xem xét đến hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Do đó, tuy Tòa án cấp sơ thẩm có vượt quá phạm vi khởi kiện nhưng không làm thay đổi bản chất vụ án, nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cũng cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

[2] Về xác định tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng quy định của pháp luật; quá trình giải quyết vụ án một số đương sự vắng mặt nhưng đã có người đại diện ủy quyền có mặt, hoặc đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, hoặc đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, nên Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 227; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[3] Căn cứ hồ sơ quản lý đất qua các thời kỳ, cũng như các đương sự thừa nhận thì thửa đất đang tranh chấp theo bản đồ đo đạc năm 2014 thuộc thửa đất số 167, tờ bản đồ số 17 thuộc tổ dân phố A, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, diện tích 1.040,9m² có nguồn gốc của ông cha để lại cho ông Trần Văn H và bà Ngô Thị T; hai ông bà sử dụng từ trước năm 1980. Theo bản đồ 299 thuộc thửa số 81, tờ bản đồ số 04 diện tích 989m²; tại sổ mục kê thể hiện thuộc thửa số 81, tờ bản đồ số 04 diện tích sử dụng là 2.093m², chủ sử dụng ghi Huân, loại đất thể hiện là thổ cư (T). Ngày 30/10/1997 được cấp GCNQSD đất mang tên Trần Văn H với diện tích 989m²; ngày 06/9/2016 được cấp đổi GCNQSD đất, diện tích 1040,9m². Như vậy, có căn cứ khẳng định nguồn gốc thửa đất là của ông Trần Văn H và bà Ngô Thị T.

[4] Theo bà Phạm Thị L thì năm 2017 ông H và bà T đã tự nguyện tặng cho vợ chồng bà toàn bộ thửa đất này, việc tặng cho được thể hiện bằng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được lập ngày 15/5/2017, có chữ ký xác nhận, điểm chỉ của bên tặng cho và bên nhận tặng cho, chứng thực của UBND thị trấn T. Tuy nhiên, xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thấy: Xét về hình thức của hợp đồng thì căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cũng như quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, các đương sự thừa nhận thì ông Trần Văn H và bà Ngô Thị T đều không biết chữ (không biết đọc, không biết viết), nhưng trong hợp đồng tặng cho lại có chữ ký xác nhận của ông H, bà T; các đương sự cũng thừa nhận tại thời điểm lập hợp đồng tặng cho thì ông H đang bệnh nặng (ung thư phổi giai đoạn cuối) không còn minh mẫn, tỉnh táo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Thị L cũng không khẳng định được ông H, bà T có biết chữ hay không. Hơn nữa, việc chứng thực của UBND thị trấn T đã không thực hiện đúng theo quy định; bởi vì theo hợp đồng ông H, bà T đã ký và điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt người chứng thực; nhưng theo ông Phạm Ngự Bình n1 là Chủ tịch UBND thị trấn T, là người chứng thực vào hợp đồng thì việc xây dựng hồ sơ đều do cán bộ địa chính và cán bộ tư pháp lập và trình ông K1, ông H và bà T không tự ký, điểm chỉ trước mặt ông, nên xét về mặt trình tự thủ tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông H, bà T với ông T4, bà L không thực hiện đúng trình tự, có dấu hiệu giả tạo. Hơn nữa, Tuy hợp đồng tặng cho được lập ngày 15/5/2017 nhưng trước đó (12/5/2017) khi chưa có hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất UBND thị trấn T đã có biên bản kiểm tra hồ sơ chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất là không đúng trình tự, thể hiện sự hợp thức hóa hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất.

[5] Xét về nội dung của hợp đồng, theo các đương sự tại thời điểm lập hợp đồng thì ông Trần Văn H và bà Ngô Thị T đang sinh sống trên thửa đất này, trên đất có ngôi nhà cấp 4 do ông Trần Văn T1 xây dựng năm 1992 có diện tích 70m² và một ngôi nhà cấp 4 có diện tích 45m² do bà L, ông T4 xây dựng năm 1999, nhưng trong hợp đồng tặng cho không thể hiện có tài sản trên đất là tài sản gì, không có sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản. Hơn nữa, hợp đồng tặng cho chỉ thể hiện diện tích đất là 1.040,9m², nhưng chỉ thể hiện là đất ở + cây lâu năm, không thể hiện diện tích cụ thể của từng loại đất; tại thời điểm lập hợp đồng các đương sự đều thừa nhận ông H đang ốm nặng, không còn minh mẫn, tỉnh táo; bà L cho rằng ông H vẫn nói được nhưng không có căn cứ chứng minh ông H còn tỉnh táo hay không, nên không có đủ căn cứ chứng minh ý chí tự nguyện của ông hay trong việc tặng cho quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là bà Phạm Thị L thừa nhận trước đây vợ chồng bà đã mượn GCNQSD đất của ông H, bà T để thế chấp vay vốn Ngân hàng và có nhờ bà Tư điểm chỉ vào hợp đồng thế chấp, việc này phù hợp với lời khai của bà T. Hiện tại các đương sự thừa nhận đã thanh toán cho Ngân hàng xong và đã được xóa thế chấp.

Từ phân tích trên thấy rằng, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có vi phạm cả về hình thức, lẫn nội dung, nên không phát sinh hiệu lực.

[6] Đối với yêu cầu hủy GCNQSD đất, thấy: Như đã phân tích trên thì do hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không có hiệu lực, nên việc UBND huyện N căn cứ vào hợp đồng này để cấp GCNQSD đất cho ông T4, bà L là không đúng, trái với quy định của pháp luật, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã hủy GCNQSD đất cấp cho ông T4, bà L là có căn cứ.

Tổng hợp các phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, đã xem xét đảm bảo được quyền lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, tại cấp phúc thẩm bị đơn là bà L xuất trình đơn trình bày của ông Trần Văn T4 thể hiện nội dung thay đổi lời khai so với tại cấp sơ thẩm; ông T4 xác nhận có việc tặng cho quyền sử dụng đất, ông T4 có ký vào hợp đồng, nhưng việc thay đổi lời khai này không có căn cứ, không phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nên không có ý nghĩa làm căn cứ giải quyết vụ án, làm thay đổi bản chất vụ án, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ. Do đó, quan điểm của các Luật sư không có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; bác kháng cáo của bà Phạm Thị L; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2023/DS-ST ngày 30/5/2023của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh;

Về án phí: Bà Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000547, ngày 21/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Xác nhận bà L đã nộp đủ án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Duy Nhiệm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 546/2023/DS-PT ngày 06/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy gcnqsd đất

  • Số bản án: 546/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy GCNQSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy GCNQSD đất”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger