Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 545/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/6/2025

Về việc “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quang Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Ngọc
  2. Ông Nguyễn Văn Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 867/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 192/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Thế N – sinh năm 1975, CCCD: 04407501xxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/7/2021;

Địa chỉ: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hảo T – sinh năm 1972, CCCD: 04017200xxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 22/12/2021;

Địa chỉ: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 28/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Thế N trình bày:

Ông Lê Thế N và bà Nguyễn Thị Hảo T tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 137, quyển số 01/2009/P14 do Ủy ban nhân dân phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/9/2009.

Sau khi kết hôn, ông và bà Nguyễn Thị Hảo T cùng sinh sống tại địa chỉ số: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian chung sống, tính cách vợ chồng không có sự hòa hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2023, ông nộp đơn kiện yêu cầu ly hôn với bà T nhưng do bà T hứa thay đổi và ông cũng muốn cho bà T cơ hội để hàn gắn gia đình nên ông đã rút đơn kiện. Tuy nhiên, sau đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nay ông nhận thấy không còn tình cảm với bà T, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy ông khởi kiện xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Hảo T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Ông N khai có 02 con chung là Lê Thế T1, sinh ngày 19/7/2010 và Lê An N1, sinh ngày 04/10/2013. Ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thế T1, giao con chug Lê An N1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận. Tuy nhiên, do bà T muốn được nuôi cả 02 con trong trường hợp ly hôn nên nay ông yêu cầu giao cả 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông N khai không có.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hảo T có đến Tòa để làm bản tự khai trình bày ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T thừa nhận quá trình kết hôn và chung sống như ông N trình bày tuy nhiên bà không đồng ý ly hôn với ông N vì lý do mà ông N đưa ra không chính đáng. Ngoài ra, bà thấy không rõ ràng và thỏa đáng về tài sản và con chung.

Về con chung: Bà T khai có 02 con chung là Lê Thế T1, sinh ngày 19/7/2010 và Lê An N1, sinh ngày 04/10/2013. Trường hợp ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung, cấp dưỡng tùy ở ông N.

Về tài sản chung: Không còn tài sản chung.

Về nợ chung: Bà T khai không có.

Bà T vắng mặt trong quá trình Tòa án mời hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn ông Lê Thế N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hảo T vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại

phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Pháp luật về tố tụng: Ông Lê Thế N có đơn khởi kiện về việc ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Hảo T, bà T có địa chỉ cư trú tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 137, quyển số 01/2009/P14 do Ủy ban nhân dân phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/9/2009 thì hôn nhân giữa bà Lê Thị Kim T2 và ông Trần Lê M là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.

Nguyên đơn, ông Lê Thế N có Đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N là phù hợp theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hảo T đã được Tòa án triệp tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Pháp luật về nội dung:

Xét yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con của ông Lê Thế N, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Ông Lê Thế N và bà Nguyễn Thị Hảo T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2009. Theo ông Lê Thế N trình bày thì trong thời gian chung sống, ông và bà T không có sự hòa hợp về tính cách dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2023, ông nộp đơn kiện yêu cầu ly hôn với bà T nhưng sau đó đã rút lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, sau đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nay ông N lại nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T chứng tỏ mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, không có

khả năng hàn gắn. Bà T có đến Tòa trình bày ý kiến không đồng ý ly hôn với ông N nhưng bà lại không đến Tòa để tham gia hòa giải hay xét xử. Điều này chứng tỏ bà T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy mâu thuẫn giữa ông N và bà T đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Ông N và bà T khai có 02 con chung là Lê Thế T1, sinh ngày 19/7/2010 và Lê An N1, sinh ngày 04/10/2013. Hội đồng xét xử xét thấy bà T có nguyện vọng được nuôi cả 02 con trong trường hợp phải ly hôn, cấp dưỡng tùy ở ông N. Ông N cũng đã thay đổi yêu cầu, chấp nhận giao cả 02 con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận. Do đó, để đảm bảo sự phát triển, chăm sóc, giáo dục con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao cả 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Hai bên xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông N phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186, khoản 2 Điều 227, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, 57, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thế N:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Thế N được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hảo T.
    • Giấy chứng nhận kết hôn số số 137, quyển số 01/2009/P14 do Ủy ban nhân dân phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/9/2009 không còn giá trị pháp lý.
    • - Về con chung: Giao 02 con chung là Lê Thế T1, sinh ngày 19/7/2010 và Lê An N1, sinh ngày 04/10/2013 cho bà Nguyễn Thị Hảo T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.
  • - Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Hai bên xác nhận không có.
  1. Về án phí:
  2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Lê Thế N phải chịu là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí do ông N đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002751 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quyđịnh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quyđịnh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Ngọc Nguyễn Văn P

Lưu Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 545/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 545/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Thế N và à Nguyễn Thị Hảo T tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger