Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 545/2025/DS-PT

Ngày: 02/10/2025

V/v tranh chấp: “Chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hà

Các Thẩm phán:

Bà Đặng Thị Ánh Bình

Bà Nguyễn Thị Rẻn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Thái - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 395/2024/TLPT-DS, ngày 28 tháng 11 năm 2024, về việc tranh chấp “Chia di sản thừa kế”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST, ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long) bị kháng cáo, kháng nghị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 495/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn.

  1. Bà Chung Thị Mỹ T - Sinh 1973, nơi cư trú: Khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
  2. Người đại diện hợp pháp của bà Chung Thị Mỹ T: Bà Nguyễn Thị Hồng P – Nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 01/10/2025 - Có mặt).

  3. Ông Chung Văn Sĩ L – Sinh năm 1947 (chết ngày 05/5/2023)
  4. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Chung Văn Sĩ L: Bà Chung Thị Mỹ T – Nơi cư trú: Khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).

- Bị đơn: Bà Ngô Thị H - Sinh 1950; nơi cư trú: Khóm F, xã C, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Ngô Thị X - Sinh 1953; nơi cư trú: Khóm D, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

1

Người đại diện hợp pháp của bà Ngô Thị X: Ông Nguyễn Minh T1 - Sinh năm 1969; địa chỉ: Số A, N, phường L, tỉnh Vĩnh Long (được uỷ quyền theo văn bản uỷ quyền ngày 11/02/2025 – Vắng mặt).

  1. Ông Ngô Văn B - Sinh năm 1972; nơi cư trú: Số E, Tổ A, phường C, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt).
  2. Bà Ngô Thị H1 - Sinh năm 1968; nơi cư trú: Số E, Tổ A, phường C, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt).

- Người kháng cáo:

  1. Bà Ngô Thị H – Bị đơn;
  2. Bà Ngô Thị X – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm nhân nhân dân Khu vực B1 – Vĩnh Long).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Chung Thị Mỹ T trình bày:

Cụ Ngô Phước T2 (chết năm 2005) và cụ Lê Thị Kim L1 (chết năm 2015) có 03 nguời con chung gồm: Bà Ngô Thị Kim Đ (chết năm 2016), bà Ngô Thị H, bà Ngô Thị X. Ngoài ra, cụ T2 còn có 02 người con khác (con riêng) là ông Ngô Văn B và bà Ngô Thị H1. Cụ T2 và cụ L1 không có con nuôi. Cụ T2 chết không để lại di chúc. Cụ L1 chết có để lại di chúc; theo Di chúc ngày 06/10/2012, cụ L1 để lại di sản cho bà Đ hưởng gồm:

  • - Căn nhà cấp 4 có diện tích 150m², ngang 11,2mét, dài 9,1mét, cột bêtông, vách tường, mái tôn, nền lót gạch tàu gắn liền thửa đất 615.
  • - Quyền sử dụng thửa đất thửa số 615, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.086,5m², loại đất trồng cây lâu năm, toạ lạc tại ấp N, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (sau đó được đổi thành Khóm F, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Khóm F, xã C, tỉnh Vĩnh Long). Theo chương trình Vlap thửa đất 615 được cấp đổi thành thửa đất số 31, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.182,0m², trong đó loại đất ở là 150m² và đất trồng cây lâu năm là 3.032,0m². Phần đất này do hộ cụ Lê Thị Kim L1 đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang số phát hành CA 952937, số vào sổ CH02882, được Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long (trước đây) cấp ngày 31/12/2014.

Sau khi cụ L1 chết, bà Đ chưa thực hiện thủ tục thừa kế theo di chúc ngày 06/10/2012 của cụ L1. Ngày 25/11/2016, bà Đ chết không để lại chúc, bà Đ có chồng là ông Chung Văn Sĩ L chết năm 2023; ông Sĩ L và bà Đ có một người con ruột duy nhất là bà Chung Thị Mỹ T, không có con nuôi. Bà T chưa thực hiện thủ tục thừa kế di sản theo quy định của pháp luật. Bà T là người quản lý,

2

sử dụng thửa đất này đến cuối năm 2019 thì bà Ngô Thị H tự ý quản lý, sử dụng thửa đất số 31 và căn nhà gắn liền thửa đất.

Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu bà H trả lại quyền sử dụng thửa đất số 31 và căn nhà gắn liền trên đất theo di chúc ngày 06/10/2012 của cụ Lê Thị Kim L1.

* Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn Ngô Thị H trình bày:

Bà H thừa nhận mối quan hệ gia đình đúng như lời trình bày của bà T. Bà H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T. Bà H cho rằng Di chúc mà bà T cho rằng của cụ L1 là di chúc giả vì: Cụ L1 tên đầy đủ là Lê Thị L1 chứ không phải là Lê Thị Kim L1 như Di chúc ghi; Di chúc chỉ viết bằng tay tên L1 là không đúng, mà phải viết tay đầy đủ tên Lê Thị L1 mới đúng, ngày lập di chúc là 06/10/2012 nhưng đến ngày 19/11/2012 mới chứng thực di chúc.

Bà H cho rằng căn nhà trên thửa đất 31 là căn nhà thuộc quyền sử dụng của bà X, do bà X xây dựng. Ngày 10/12/2015, bà H đã nhận chuyển nhượng căn nhà và thửa đất 31 của bà X với giá là 400.000.000đ. Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng giấy tay, không có ra chính quyền địa phương xác nhận.

Bà Ngô Thị H yêu cầu Toà án giải quyết:

  • Huỷ Di chúc lập ngày 06/10/2012 được chứng thực ngày 19/11/2012 do vi phạm hình thức di chúc.
  • Chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 31; bà H được nhận kỷ phần gồm: diện tích đất 62,5m², mục đích sử dụng là đất ở và diện tích đất 1.152,34m², mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm.
  • Đối với phần tài sản thừa kế của những người thừa kế khước từ giao cho bà H thì bà H đồng ý quản lý, sử dụng.
  • Đối với tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất của ai thì người đó được tiếp tục quản lý, sử dụng, không yêu cầu Toà án giải quyết; còn phần căn nhà cấp 4 bà H yêu cầu công nhận cho bà quyền sử dụng đất gắn liền với vị trí căn nhà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • - Bà Ngô Thị X trình bày: Bà Ngô Thị X thống nhất lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị H; nếu được phân chia kỷ phần thừa kế theo quy định của pháp luật đối với thửa đất 31 thì bà X giao lại cho bà H quản lý, sử dụng.
  • - Bà Ngô Thị H1 trình bày: Bà Ngô Thị H1 thống nhất lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị H; nếu được phân chia kỷ phần thừa kế theo quy định của pháp luật đối với thửa đất 31 thì bà H1 giao lại cho bà H quản lý, sử dụng.
  • - Ông Ngô Văn B trình bày: Ông Ngô Văn B thống nhất lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị H; nếu được phân chia kỷ phần thừa kế theo

3

quy định của pháp luật đối với thửa đất 31 thì ông B giao lại cho bà H quản lý, sử dụng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự thống nhất:

Thống nhất kết quả đo đạc theo trích đo ngày 29/6/2023 diện tích thửa đất tranh chấp thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3131,7m² gồm các mốc 1,2,3,4,5,1 trong đó có 150m² mục đích sử dụng là đất ở và 2.981,7m² là đất trồng cây lâu năm.

Tài sản trên đất có: 01 căn nhà cấp 4 các đương sự không yêu cầu định giá Toà án công nhận QSD đất thuộc về ai thì người đó được quyền sở hữu căn nhà. Các đương sự yêu cầu định giá 185 cây Bưởi thuộc nhóm B có giá 98.605.000đ; 15 cây Bưởi thuộc nhóm A có giá 2.235.000đồng; 25 cây Ổi thuộc nhóm A có giá 1.075.000đ; 01 cây Dừa thuộc nhóm A có giá 210.000 đồng; giá đất ở có giá 350.000đồng/01m²; giá đất cây lâu năm 216.000đ/01m², tại phiên toà các đương sự thống nhất giá đất, giá trị tài sản không yêu cầu định giá lại.

Đối với mẹ ruột ông Ngô Văn B và bà Ngô Thị H1 thì các đương sự không xác định được còn sống hay đã chết, không xác định được họ, tên địa chỉ cụ thể.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long) đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, 156, 165 và Điều 227, 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 4 Điều 626, điều 630, Điều 631, Điều 643, Điều 659, 688 của Bộ luật dân sự; Điều 166, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, 27 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Chung Thị Mỹ T.
  2. Di chúc lập ngày 06/10/2012 được Ủy ban nhân dân xã C (nay là thị trấn C) chứng thực ngày 19/11/2012 của cụ Lê Thị Kim L1 đối với ½ phần di sản để lại là thửa đất số 31 cùng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu và sử dụng của cụ L1 để lại là có hiệu lực pháp luật một phần.

  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị H
  4. Vô hiệu một phần di chúc lập ngày 06/10/2012 đượng Uỷ bản nhân dân xã C (nay là thị trấn C) chứng thực ngày 19/11/2012 của cụ Lê Thị Kim L1 đối với ½ phần di sản để lại là thửa đất số 31 cùng toàn bộ tài sản có trên đất.

4

Bà Chung Thị Mỹ T được quyền quản lý, sử dụng thửa đất thửa 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3131,7m² gồm các mốc 1,2,3,4,5,1 trong đó có 150m² mục đích sử dụng là đất ở và 2.981,7m² là đất trồng cây lâu năm do hộ bà Lê Thị Kim L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng gắn liền với quyền sử dụng đất (có trích đo kèm theo).

Bà Chung Thị Mỹ T có nghĩa vụ chia thừa kế của cụ T2, cụ Đ là bà Ngô Thị H, bà Ngô Thị X, ông Ngô Văn B, bà Ngô Thị H1 giá trị QSDĐ thuộc thửa số 31 tương đương số tiền 290.228.000₫ (Hai trăm chín mươi triệu hai trăm hai mươi tám ngàn đồng) giao cho bà Ngô Thị H quản lý, sử dụng.

Buộc bà Chung Thị Mỹ T bồi hoàn giá trị cây trồng cho bà Ngô Thị H với số tiền 101.050.000đ (Một trăm lẻ một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo luật định.

* Ngày 07/10/2024, bà Ngô Thị H và bà Ngô Thị X kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, cụ thể:

Bà Ngô Thị H yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chung Thị Mỹ T. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H: Vô hiệu toàn bộ 02 di chúc lập ngày 06/10/2012, được chứng thực ngày 19/11/2012; chia thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3.131,7m² đất trồng cây lâu năm, lọa lạc tại Khóm F, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; bà H yêu cầu được nhận đất cùng căn nhà và toàn bộ cây trồng trên đất; bà H đồng ý hoàn lại giá trị đất đối với kỷ phần thừa kế của bà Ngô Thị Kim Đ cho bà Chung Thị Mỹ T theo giá đất của Hội đồng định giá tài sản do Tòa án thành lập.

Bà Ngô Thị X nội dung yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chung Thị Mỹ T; vô hiệu toàn bộ 02 di chúc lập ngày 06/10/2012, được chứng thực ngày 19/11/2012; chia thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3.131,7m² đất trồng cây lâu năm, lọa lạc tại Khóm F, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; bà X đồng ý giao toàn bộ kỷ phần thừa kế của bà Xem L2 cho bà H và đồng ý giao căn nhà cho bà H sở hữu, sử dụng để thờ cúng cha mẹ.

* Ngày 09/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm nhân nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long) kháng nghị một phần Bản án sơ thẩm theo hướng sửa Bản án sơ thẩm, lý do Bản án sơ thẩm vi phạm về nội dung:

  • + Vi phạm trong việc xác định di sản thừa kế theo di chúc: Căn nhà gắn liền thửa đất số 31 (thửa cũ 615) không phải là tài sản của cụ L1, không phải là di sản thừa kế nhưng bản án sơ thẩm nhận định căn nhà là tài sản trong di chúc để giao cho bà T là vi phạm Điều 634 của Bộ luật Dân sự năm 2005; lẽ ra xác định phần di chúc về nhà ở là không có hiệu lực.

5

  • + Vi phạm trong việc xác định kỷ phần thừa kế: Cụ L1 lập di chúc để toàn bộ tài sản cho bà Đ, bà T là người thừa kế của bà Đ, lẽ ra bà T được hưởng 02 kỷ phần (01 kỷ phần thừa kế theo pháp luật của bà Đ và 01 kỷ phần theo di chúc của cụ L1 để lại cho bà Đ). Bản án sơ thẩm phân chia cho bà T nhận 01 kỷ phần, bà H nhận giá trị 05 kỷ phần là vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 676 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
  • + Vi phạm trong việc áp dụng pháp luật về việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật:
  • Bản án sơ thẩm chia giá trị cho bà H, công nhận toàn bộ thửa đất cho bà T là gây thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của bà H và vi phạm quy định về việc phân chia di sản theo quy định tại khoản 2 Điều 685 của Bộ luật Dân sự năm 2005 vì trong trường hợp này có đủ căn cứ để chia hiện vật.

  • + Ngoài ra, Bản án sơ thẩm tuyên buộc bà T chia thừa kế bằng giá trị và bồi hoàn giá trị cây trồng cho bà H nhưng không tuyên về lãi suất khi chậm thi hành án.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn Nguyễn Thị H2 rút lại uỷ quyền tham gia tố tụng đối với ông Nguyễn Minh S, xin được trực tiếp tham gia tố tụng tại phiên tòa. Bà H2 giữ nguyên kháng cáo.

Người đại diện hợp pháp của bà Ngô Thị X vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm nhưng có văn bản xác định bà X vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Người đại diện hợp pháp của bà Chung Thị Mỹ T xác định bà T không đồng ý với kháng cáo của bà H2 và bà X và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Vĩnh Long). Bà T chỉ đồng ý huỷ một phần di chúc của cụ Lê Thị Kim L1 (di chúc có nội dung diện tích nhà là 150m², đất là 3.086,5m²); đối với phần di sản của cụ Thế thì người đại diện hợp pháp của bà T đề nghị chia làm 4 phần, chia giá trị cho bà H2 chứ không đồng ý chia hiện vật.

Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên kháng nghị.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:

  • + Về thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn và người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng nội quy phiên toà.
  • + Về nội dung: Áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 12, Điều 26, Điều 27 và Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị:

6

Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long).

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Ngô Thị H và bà Ngô Thị X.

Sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng:

Chia và công nhận tách 31-2 diện tích 1940,9m² (100m² đất ở) cho chị T. Buộc chị T trả giá trị căn nhà, vật kiến trúc 134.838.000₫ và cây trồng 173.660.000₫ cho bà H.

Chia và công nhận tách 31-1, diện tích 596,9m² và 31-3, diện tích 644,2m² cho bà H (trong đó có 50m² đất thổ cư). Buộc bà H trả giá trị 104,68m² đất so với kỷ phần được nhận với số tiền 24.872.000đ cho chị T.

Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm: do bản án sơ thẩm bị sửa nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị X có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; do đó, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện của bà X.

[1.2] Nguyên đơn Chung Văn Sĩ L chết trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án; ông Sĩ L có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Chung Thị Mỹ T, bà T cũng là nguyên đơn trong vụ án; tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định bà T là nguyên đơn là không chính xác. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng của bà T là nguyên đơn và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Chung Văn Sĩ L.

[2] Về nội dung:

[2.1] Đối với kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long), xét thấy:

[2.1.1] Cụ Ngô Phước T2 (chết năm 2005) và cụ Lê Thị Kim L1 (chết năm 2015) có 03 người con chung (con ruột) là bà Ngô Thị Đ, bà Ngô Thị X, bà Ngô Thị H, không có con nuôi. Ngoài ra, cụ T2 còn có 02 người con ruột khác là ông Ngô Văn B và bà Ngô Thị H1. Cụ T2 chết không để lại di chúc. Cụ L1 chết có để lại di chúc được Ủy ban nhân dân xã C ngày 19/11/2012. Di chúc này bản chính do bà T nộp, phù hợp với di chúc do Ủy ban nhân dân thị trấn C (nay là xã C) đang lưu giữ; bà T xác định đây là di chúc hợp pháp. Theo di chúc này thì cụ L1 để lại di sản cho bà Đ gồm:

7

  • + 01 căn nhà cấp 4 có diện tích 150m², ngang 11,2m, dài 9,1m, cột bê tông, vách tường, mái tole, nền lót gạch tàu gắn liền thửa 615.
  • + Thửa đất số 615, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.086,5m², loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp N, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; theo chương trình V là thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3.182m², loại đất ở và đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long).

[2.1.2] Ngoài ra, còn có một bản di chúc thứ 2 là di chúc do bà H giao nộp cho Toà án bản sao. Bản di chúc này có cùng người lập, ngày lập, ngày chứng thực, cơ quan chứng thực, cùng thửa đất và tài sản gắn liền đất với bản di chúc trên nhưng khác diện tích nhà và diện tích đất (diện tích nhà là 101,92m², diện tích đất là 3.236,5m²) nhưng bản di chúc này không được các đương sự thừa nhận.

[2.1.3] Bà Đ chưa thực hiện thủ tục thừa kế theo di chúc thì bà Đ chết; bà Đ có người thừa kế là ông Chung Văn Sĩ L (chồng của bà Đ, chết ngày 05/5/2023) và bà Chung Thị Mỹ T (con của bà Đ). Cuối năm 2019, bà H vào quản lý, sử dụng nhà, đất trên.

[2.1.4] Xét thấy, quyền sử dụng đất thửa 615 được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của cụ Ngô Phước T2 và cụ Lê Thị Kim L1. Cụ T2 chết, di sản của cụ T2 chưa được phân chia nhưng cụ L1 lại lập di chúc để lại toàn bộ thửa đất này cho bà Đ thừa kế là không phù hợp với quy định tại Điều 223, Điều 646 và Điều 652 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên di chúc của cụ L1 chỉ có hiệu lực một phần đối với ½ tài sản của cụ L1 là quyền sử dụng thửa đất 615. Di chúc này do cụ L1 ký, chữ ký trong di chúc được Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C kết luận chữ ký của cụ L1. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định di chúc này có hiệu lực một phần và chia thừa kế theo di chúc đối với phần di sản của cụ L1 cho bà T (người thừa kế của bà Đ) là có căn cứ.

[2.1.5] Đối với căn nhà trên thửa đất 615, cụ L1 lập di chúc giao toàn bộ căn nhà cho bà Đ hưởng nhưng căn nhà này do bà X xây dựng, có xác nhận của bà Đ theo Tờ cam kết ngày 03/10/2015 (xác nhận căn nhà do bà X xây dựng), không phải là nhà của cụ L1 nên di chúc của cụ L1 đối với phần căn nhà gắn liền thửa đất 615 là không phù hợp với quy định tại Điều 194, Điều 195 và Điều 198 của Bộ luật Dân sự năm 2005 nên phần di chúc liên quan đến căn nhà trên thửa đất 615 không có hiệu lực.

[2.1.6] Đối với phần di sản của cụ T2, bản án sơ thẩm quyết định chia thừa kế phần di sản của cụ T2 cho bà H hưởng giá trị 05 kỷ phần với số tiền là 290.228.000đ, và chỉ cho bà T nhận 01 kỷ phần là không đảm bảo quyền lợi cho bà T; lẽ ra bà T phải được nhận 02 kỷ phần (phần của cụ L1 và phần của bà Đ). Mặt khác, di sản thừa kế của cụ Thế là quyền sử dụng đất thửa 615 có thể chia

8

được bằng hiện vật nhưng bản án sơ thẩm chia giá trị cho bà H là không đúng quy định tại Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.1.7] Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long) là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Xét kháng cáo của bà Ngô Thị H bà Ngô Thị X:

[2.2.1] Quyền sử dụng đất thửa 615 là tài sản chung của cụ T2 và cụ L1; căn nhà trên đất là của của bà X, không phải là tài sản của cá nhân cụ L1 nên việc cụ L1 lập di chúc để lại toàn bộ thửa đất này cho bà Đ, định đoạt cả phần di sản của của T2, là không đúng quy định của pháp luật như nhận định trên. Do đó, kháng cáo của bà H và bà X về việc vô hiệu Di chúc ngày 06/10/2012 của cụ L1 (có nội dung diện tích nhà là 150m², đất là 3.086,5m²) là có căn cứ chấp nhận một phần. Về việc bà H và bà X cho rằng phần thửa đất 615 là tài sản cụ T2 và cụ L1 đã tặng cho bà X; tuy nhiên, các đương sự không có bất kỳ chứng cứ nào chứng minh việc tặng cho quyền sử dụng đất này nên thửa đất 615 không phải là tài sản của bà X.

[2.2.2] Đối với di chúc ngày 06/10/2012 (có nội dung diện tích nhà là 101,92m², diện tích đất là 3.236,5m²) đứng tên người lập là Lê Thị Kim L1 nhưng di chúc này không có giá trị nên kháng cáo của bà H và bà X về việc vô hiệu di chúc này là có căn cứ chấp nhận.

[2.2.3] Về việc di sản thừa kế của cụ T2 và cụ L1, xét thấy:

  • - Di sản thừa kế của cụ Thế là ½ khối tài sản chung của cụ T2 và cụ L1 là thửa đất số 615, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.086,5m2, loại đất trồng cây lâu năm; theo chương trình V là thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3.182m², loại đất ở và đất trồng cây lâu năm (trong đó có 150m² đất ở tại đô thị và 3.032m² đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long), gồm:
  • Đất ở tại đô thị (ODT) là: 150m² : 2 = 75m².

    Đất trồng cây lâu năm (CLN) là: 3.032m² : 2 = 1.516m².

    Tổng cộng đất ở tại đô thị và đất trồng cây lâu năm (ODT+CLN) là: 1.591m² (trong đó có 75m² đất ODT và 1.516m² đất CLN).

    Di sản thừa kế của cụ T2 được chia làm 06 kỷ phần cho 06 người thừa kế gồm: Vợ cụ Thế là bà L1 và 05 người con ruột của cụ T2 gồm: Bà Đ, bà H, bà X, bà H1 và ông B, mỗi người được hưởng: 12,5m² đất ODT và 252,66m² đất CLN; tổng cộng mỗi người được hưởng 265,16m² đất ODT+CLN.

    Do bà X, bà H1 và ông B đã tự nguyện nhường quyền hưởng di sản thừa kế lại cho bà H nên bà H được hưởng 04 kỷ phần bằng 1.060,64m² đất ODT+CLN (trong đó có 50m² đất ODT và 1.010,64m² đất CLN).

  • - Di sản thừa kế của cụ L1 gồm:

9

  • + ½ khối tài sản chung của cụ T2 và cụ L1 là thửa đất số 615, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.086,5m², loại đất trồng cây lâu năm, theo chương trình V là thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3.182m², loại đất ở và đất trồng cây lâu năm (trong đó có 150m² đất ở tại đô thị và 3.032m² đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long), gồm: 1.591m² đất ODT+CLN.
  • + 01 kỷ phần thừa kế nhận từ cụ T2: 265,16m² đất ODT+CLN.

Tổng cộng là: 1.856,16m² đất ODT+CLN (trong đó có 87,5m² đất ODT và 1.516m² đất CLN).

Toàn bộ di sản thừa kế của cụ L1 được chia theo di chúc cho bà Đ. Do bà Đ chết, có người thừa kế là chồng là ông Chung Văn Sĩ L và bà Chung Thị Mỹ T; ông Sĩ L chết, có người thừa kế là bà T nên bà T được hưởng thừa kế toàn bộ di sản thừa kế của cụ L là 1.856,16m² đất ODT+CLN (trong đó có 87,5m² đất ODT và 1.516m² đất CLN). Ngoài ra, bà T còn hưởng 01 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Thế mà bà Đ được hưởng là 265,16m² đất ODT+CLN (trong đó có 12,5m² đất ODT và 252,66m² đất CLN). Tổng cộng bà T được hưởng: 2.121,32m² (trong đó có 100m² đất ODT và 2.021,32m² đất CLN).

[2.2.4] Theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 30/6/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh V thì phần đất tranh chấp gồm các tách thửa: Tách thửa 31-1 có diện tích 596,9m², tách thửa 31-2 có diện tích 1.940,9m², tách thửa 31-3 có diện tích 644,2m².

[2.2.5] Xét thấy, trên tách thửa 31-2 có 01 căn nhà cấp 4 của bà X; bà X đã giao cho bà H sở hữu nên phần tách thửa 31-2 chia cho bà H là phù hợp. Do tách thửa 31-2 mà bà H được nhận có diện tích lớn hơn diện tích đất mà bà H được hưởng thừa kế của cụ T2 nên bà H phải có nghĩa vụ hoàn trả giá trị đất đối với phần chênh lệch lại cho bà T theo giá mà Hội đồng định giá đã định, cụ thể: Phần đất chênh lệch là 880,26m² đất CLN; giá đất CLN là 237.600đ/m². Do đó, bà H phải hoàn trả cho bà T số tiền: 880,26m² x 237.600đ/m² = 209.149.776₫.

[2.2.6] Tách thửa 31-1 có vị trí giáp ranh đất của bà T, còn tách thửa 31-3 có cây trồng của cụ L (dừa) và có mộ của cụ L và bà Đ (mẹ của bà T); bà Đ được cụ L lập di chúc giao nhiệm vụ thờ cúng nên chia cho bà T hưởng tách thửa 31-1 và tách thửa 31-3 là phù hợp. Các tách thửa này có tổng diện tích là 1.241,1m², ít hơn diện tích đất mà bà T được hưởng thừa kế là 880,26m² nên bà T được nhận giá trị phần chênh lệch từ bà H là 209.149.776₫.

[2.2.7] Do trên các tách thửa này có cây trồng của bà H (mít, bưởi, chuối, ổi) nên bà T phải có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cây trồng cho bà H theo giá mà Hội đồng định giá đã định, tổng cộng là 76.235.000đ và được sở hữu cây trồng trên phần đất mà bà được hưởng.

[2.3] Từ những nội dung phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát

10

nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long) và một phần kháng cáo của bà Ngô Thị H và bà Ngô Thị X, sửa một phần bản án sơ thẩm như nội dung nhận định trên; thống nhất một phần nội dung đề nghị của của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ:

Chi phí đo đạc, định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm tổng cộng là 6.074.000đ; trong đó bà T chịu 4.049.000đ, bà H chịu 2.025.000đ. Bà H đã nộp tạm ứng chi phí đo đạc, định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 6.074.000đ nên được khấu trừ; bà T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà H số tiền 2.025.000₫.

[4] Về chi phí giám định:

Bà H chịu toàn bộ chi phí giám định chữ ký là 5.511.000₫ nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng chi phí giám định 5.511.000đ; bà H đã nộp xong.

[5] Về án phí:

Do sửa Bản án sơ thẩm nên bà hoa và bà X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại như sau:

Bà T chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị tài sản được chia (giá trị 100m² đất ODT là 46.200.000đ, giá trị 2.021,32m² đất CLN là 480.265.632đ, tổng cộng là 526.465.632đ), cụ thể:

{20.000.000₫ + 4% x (526.465.632₫ - 400.000.000₫)} = 25.058.625d.

Do bà H là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên bà H được miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long).

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Ngô Thị H và bà Ngô Thị X.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Toà án nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long).

Căn cứ các khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 157, Điều 165 và Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 7 Điều 27 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

11

Áp dụng Điều 194, Điều 195, Điều 198, Điều 223, Điều 646 và Điều 652 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 659, Điều 660 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Chung Thị Mỹ T. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị H.
    1. Xác định Di chúc lập ngày 06/10/2012 được Ủy ban nhân dân xã C (nay là xã C) chứng thực ngày 19/11/2012 của cụ Lê Thị Kim L1 đối với thửa đất số 615, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.086,5m², loại đất CLN, tọa lạc tại ấp N, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (theo chương trình V là thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3.182m², loại đất ODT + CLN, tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long) cùng căn nhà cấp 4 có gắn liền đất diện tích 150m², ngang 11,2m, dài 9,1m, cột bê tông, vách tường, mái tole, nền lót gạch tàu là di chúc có hiệu lực pháp luật một phần.
    2. Phần di chúc có hiệu lực là ½ thửa đất số 615, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.086,5m², loại đất CLN, tọa lạc tại ấp N, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; theo chương trình V là thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3.182m², loại đất ODT + CLN, tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long).
    3. Vô hiệu phần Di chúc lập ngày 06/10/2012 được Ủy ban nhân dân xã C (nay là xã C) chứng thực ngày 19/11/2012 của cụ Lê Thị Kim L1 đối với ½ thửa đất số 615, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.086,5m², loại đất CLN, tọa lạc tại ấp N, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (theo chương trình V là thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích 3.182m², loại đất ODT + CLN, tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long) cùng toàn bộ căn nhà cấp 4 gắn liền đất có diện tích 150m², ngang 11,2m, dài 9,1m, cột bê tông, vách tường, mái tole, nền lót gạch tàu.
    4. Vô hiệu Di chúc lập ngày 06/10/2012 được Ủy ban nhân dân xã C (nay là xã C) chứng thực ngày 19/11/2012 của cụ Lê Thị Kim L1 đối với thửa đất số 615, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.236,5m², loại đất CLN, tọa lạc tại ấp N, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long cùng căn nhà cấp 4 gắn liền đất có diện tích 101,92m², ngang 11,2m, dài 9,1m, cột bê tông, vách tường, mái tole, nền lót gạch tàu.
    5. Chia cho bà Chung Thị Mỹ T hưởng thừa kế di sản của cụ Ngô Phước T2 và Lê Thị Kim L1 diện tích tách thửa 31-1 và tách thửa 31-3, diện tích là 1.241,1m² (trong đó có 50m² đất ODT và 1.191.1m² đất CLN), tờ bản đồ số 42, toạ lạc tại Khóm F, xã C, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là Khóm F, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long).
    6. Chia cho bà Ngô Thị H tách thửa 31-2, diện tích 1.940,9m² (trong đó có 100m² đất ODT và 1.840.9m² đất CLN), tờ bản đồ số 42, toạ lạc tại Khóm F, xã C, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là Khóm F, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long).

12

(theo Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 30/6/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh V đính kèm).

Bà Chung Thị Mỹ T và bà Ngô Thị H có quyền, nghĩa vụ kê khai đăng ký đất đai đối với phần đất được chia theo quy định của pháp luật.

  1. Buộc bà Chung Thị Mỹ T có nghĩa vụ bồi hoàn giá trị cây trồng trên tách thửa 31-1 và tách thửa 31-3 cho bà Ngô Thị H với số tiền là 76.235.000₫ (Bảy mươi sáu triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
  2. Buộc bà Ngô Thị H có nghĩa vụ hoàn trả giá trị phần đất chênh lệch cho bà Chung Thị Mỹ T với số tiền là 209.149.776đ (Hai trăm lẻ chín triệu một trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi sáu đồng).
  3. Bà Chung Thị Mỹ T được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng trên tách thửa 31-1 và 31-3 mà bà được chia.
  4. Buộc bà Ngô Thị H có nghĩa vụ giao cho bà Chung Thị Mỹ T phần đất và tài sản gắn liền đất mà bà T được hưởng thừa kế gồm: Tách thửa 31-1 và tách thửa 31-3, diện tích là 1.241,1m² (trong đó có 50m² đất ODT và 1.191.1m² đất CLN), tờ bản đồ số 42, toạ lạc tại Khóm F, xã C, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là Khóm F, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long) và cây trồng trên các tách thửa 31-1, 31-3 (dừa, mít, bưởi, chuối, ổi).
  5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về chi phí giám định: Bà H chịu toàn bộ chi phí giám định chữ ký là 5.511.000đ (Năm triệu năm trăm mười một nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng chi phí giám định 5.511.000đ (Năm triệu năm trăm mười một nghìn đồng) mà bà H đã nộp; bà H đã nộp xong.

3. Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Chung Thị Mỹ T chịu 4.049.000₫ (Bốn triệu không trăm bốn mươi chín nghìn đồng); bà Ngô Thị H chịu 2.025.000đ (Hai triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Bà H đã nộp tạm ứng chi phí đo đạc, định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 6.074.000₫ (Sáu triệu không trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) nên được khấu trừ; bà T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà H số tiền 2.025.000đ (Hai triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

4. Về án phí:

4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Chung Thị Mỹ T chịu 25.058.752₫ (Hai mươi lăm triệu không trăm năm mươi tám nghìn bảy trăm năm mươi hai đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 3.122.000₫ (Ba triệu một trăm hai mươi hai nghìn) mà bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Vĩnh Long) theo biên lai thu số 0003144

13

ngày 13/10/2020; bà T còn phải nộp thêm 21.936.752đ (Hai mươi mốt triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm năm mươi hai đồng).

Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Ngô Thị H.

4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị H và bà Ngô Thị X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

  1. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc, Kiểm tra II;
  • - VKSND tỉnh VL;
  • - TAND Khu vực 2 - VL;
  • - Phòng THADS Khu vực 2 - VL
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Tòa Dân sự, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Hồng Hà

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 545/2025/DS-PT ngày 02/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 545/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn Chung Thị Mỹ T tranh chấp: “Chia di sản thừa kế” bị đơn Ngô Thị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger