Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 545/2024/HS-ST

Ngày: 24-10 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 510/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 8706/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đông

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Tâm
  2. Ông Mai Thanh Giàu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn K - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 510/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 8706/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị Hoàng O Giới tính: Nữ.

Tên gọi khác: Không có.

Ngày sinh: 25/10/1969. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh

Nơi thường trú: 1 P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ở khi bị bắt: Số A Thôn G, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Học vấn: 3/12 Nghề nghiệp: Không

Cha: Nguyễn Văn K1 Sinh năm: 1946.

Mẹ: Phan Thị Tuyết M (Đã chết).

Chồng: Nguyễn Văn Cảnh S năm: 1981.

Bị can là con đầu trong gia đình có 04 chị em. Nhỏ nhất sinh năm 1973.

Tiền án: 01

Ngày 15/12/2021, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Lê Thị Hoàng 01 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST. Ngày 15/4/2023 chấp hành xong án phạt tù. Đã đóng án phí hình sự sơ thẩm (Bút lục: 215-217; 224; 267).

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 23/4/1997, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 103/1997/HSST. Chấp hành xong án phạt tù từ ngày 01/9/1997. Đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm (Bút lục: 218; 266; 268).

Ngày 25/02/2003, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Dụ dỗ người chưa thành niên phạm pháp” theo Bản án số 18/2003/HSST. Chấp hành xong án phạt tù.

Ngày 28/02/2006, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 17/2006/HSST. Đã chấp hành xong án phạt tù từ ngày 04/8/2007 (Bút lục: 269).

Ngày 10/6/2008, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 72/2008/HSST. Chấp hành xong án phạt tù từ ngày 23/4/2010. Đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm (Bút lục: 222-224; 270);

Ngày 07/3/2014, Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 57/2014/HSST. Chấp hành xong án phạt tù từ ngày 25/4/2015. Đã thi hành xong án phí sơ thẩm (Bút lục: 225-258);

Ngày 31/8/2016, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 271/2016/HSST. Chấp hành xong án phạt tù từ ngày 14/10/2018. Đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm (Bút lục: 259-262).

Bị can bị tạm giam từ ngày 20/10/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Họ và tên: Dương Duy G Giới tính: Nữ.

Tên gọi khác: Không có.

Ngày sinh: 16/10/1974. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh

Nơi thường trú: 72/19/9 Phan Đăng L, Tổ 41, khu phố D, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Học vấn: 5/12 Nghề nghiệp: Không

Cha: Dương An P (Đã chết).

Mẹ: Huỳnh Ngọc Hoa S1 năm: 1947.

Bị can là con thứ 04 trong gia đình có 04 anh chị em. Lớn sinh năm 1968.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị tạm giam từ ngày 20/10/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị hại:

  • Ông Phạm Công H; địa chỉ: Số C N, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Ngô Văn T – Chủ tiệm V, địa chỉ: Số E đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
  • Bà Nguyễn Thị Thanh T1; địa chỉ: Số E đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/9/2023, O1 sử dụng điện thoại hiệu Oppo, màu đỏ gọi điện thoại cho G (qua số điện thoại 0784.722.xxx) rủ G đi trộm cắp tài sản thì G đồng ý. Sau đó, G bắt xe ôm truyền thống đi từ nhà đến khu vực siêu thị L1 ở quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (gần nhà O1), đến nơi G gọi điện thoại cho O1, O1 điều khiển xe mô tô loại Sanda Dearm biển số 52Z5-1644 ra gặp G rồi giao xe cho G điều khiển chở O1 đến địa chỉ C N, khu phố A, phường L, thành phố T thì phát hiện cửa nhà khép hờ không đóng, O1 quan sát thấy không có người ở nhà nên nói G đứng ở ngoài trông xe, O1 mở cửa đi vào bên trong nhà thấy cửa phòng ngủ khép hờ nên O1 đẩy cửa đi vào và dùng chiếc kéo (O1 lấy ở trong nhà) cạy tủ thì thấy bên trong tủ có 01 túi xách màu nâu có số tiền mặt 69.000.000 đồng (gồm nhiều tờ mệnh giá 200.000 đồng và mệnh giá 500.000 đồng); 01 túi vải bên trong có 06 chiếc nhẫn, 01 đôi bông tai, 01 chiếc lắc tay và 01 sợi dây chuyền tất cả đều là kim loại màu vàng. Ngoài ra ở phía dưới túi xách có một bọc ni lông màu trắng, bên trong có số tiền mặt 3.000.000 đồng (gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 10.000, 20.000 đồng) và có thiệp lì xì màu đỏ bên trong có 02 tờ tiền mệnh giá 100 USD. O1 lấy hết số trang sức trên cất giấu trong túi áo khoác bên phải, số tiền 69.000.000 đồng Oanh cất giấu trong túi áo khoác bên trái cùng số tiền 3.000.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 100 USD Oanh để ở trong túi ni lông màu đen rồi kẹp vào nách và đi ra ngoài đường gặp G nói với G chở O1 về nhà tại địa chỉ 1 Thôn G T, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi về tới nhà O1, O1 đưa cho G số tiền mặt 3.000.000 đồng là tiền công G chở O1 đi trộm cắp tài sản, sau đó G đi về.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, O1 đem số trang sức bằng vàng lấy trộm được đến tiệm V tại địa chỉ E Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Ngô Văn T làm chủ để bán. O1 nói với ông T là vàng của O1 mua đã lâu không còn giấy tờ và nói ông T đem đi nấu, sau khi ông T đem nấu đồng ý mua với giá 85.000.000 đồng thì O1 đồng ý. Trong lúc, O1 chờ ông T tính tiền, O1 hỏi vợ ông T là bà Nguyên Thị Thanh T2 mua 01 sợi dây chuyền vàng có mặt dây chuyền màu vàng có hình con rồng có trọng lượng 01 lượng 320 loại 18k với giá 47.900.000 đồng. Đến ngày 05/10/2023, O1 quay lại tiệm V cầm sợi dây chuyền với giá 42.000.000 đồng. Đối với 200 USD, O1 đã đem đến một tiệm vàng trên đường N thuộc Quận E hoặc Quận F (O1 không nhớ cụ thể) đổi thành 4.860.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết (Bút lục: 81-82; 92-95; 207-214).

Ngày 16/10/2023, sau khi Cơ quan Công an đưa O1 về làm việc, thì O1 đã giao nộp số tiền 100.000.000 đồng tiền mặt, trong đó 69.000.000 đồng là O1 lấy trộm được của ông H, còn 31.000.000 đồng là tiền O1 bán trang sức bằng vàng tại tiệm V có được (Bút lục: 19).

Bản kết luận định giá tài sản số 04-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 05/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố T, kết luận: 01 dây chuyền vàng loại 24k trọng lượng 8 chỉ, có trị giá 45.320.000 đồng; 01 lắc đeo tay vàng 24k trọng lượng 5 chỉ, có trị giá 28.325.000 đồng; 01 nhẫn vàng 24k trọng lượng 5 chỉ, có trị giá 28.325.000 đồng; 03 nhẫn vàng 24k trọng lượng 2 chỉ/1 chiếc, có trị giá 33.990.000 đồng; 02 nhẫn vàng 24k trọng lượng 1 chỉ/1 chiếc, có trị giá 11.330.000 đồng và 01 đôi bông tai vàng 18k trọng lượng 2 chỉ, có trị giá 8.528.400 đồng. Tổng trị giá tài sản là 155.818.400 đồng (Bút lục: 108-110).

Bản kết luận định giá tài sản số: 155-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 05/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố T, kết luận: 02 tờ tiền ngoại tệ Dollar Mỹ (USD), mỗi tờ mệnh giá 100 USD có tổng trị giá 4.892.000 đồng (Bút lục: 305).

* Vật chứng vụ án (Bút lục: 27-31; 98-101):

  • 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón bảo hiểm có ghi dòng chữ màu trắng “quan trọng là thần thái”, “AXE” của Dương Duy G;
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng thu giữ của Dương Duy G.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Hoàng O.
  • 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón bảo hiểm có ghi dòng chữ “Manchester United” của Nguyễn Thị Hoàng O;
  • 01 xe gắn máy hiệu Sanda Dream, biển số 52Z5 – 1644. Qua xác minh xác định chị Nguyễn Thị Lệ H1 đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, qua tra cứu dữ liệu dân cư tại nơi thường trú của chị H1 thì không có ai tên là Nguyễn Thị Lệ H1. Do chưa xác định nơi thường trú, tạm trú của chị H1 nên chưa lấy lời khai để làm rõ nguồn gốc xe trên. Do đó, chuyển Tòa xử lý (Bút lục: 77-80).
  • Số tiền 100.000.000 đồng do O giao nộp. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại số tiền mặt 69.000.000 đồng cho ông Phạm Công H là chủ sở hữu. Còn số tiền 31.000.000 đồng do chưa xác định được chủ sở hữu nên chuyển Tòa xử lý (Bút lục: 31; 250-253).
  • 01 sợi dây chuyền kim loại bằng vàng có mặt dây chuyền màu vàng có hình con rồng O mua của bà T2 bằng số tiền O trộm cắp được mà có, chuyển Tòa xử lý.
  • 01 hợp đồng cầm đồ của doanh nghiệp tư nhân V1, cầm đồ Nguyên Thành (lưu kèm hồ sơ vụ án);
  • 01 USB ghi lại hình ảnh O và G lấy trộm tài sản (lưu kèm hồ sơ vụ án);

Về trách nhiệm dân sự:

  • Ông Phạm Công H yêu cầu nhận lại tài sản đã bị mất trộm, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm;
  • Ông Ngô Văn T3 và bà Nguyễn Thị Thanh T1, không yêu cầu các bị cáo phải chịu trách nhiệm dân sự;

Cáo trạng số: 436/CT-VKSTPTĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O và Dương Duy G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O và Dương Duy G về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1, Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo

Nguyễn Thị Hoàng O từ 09 (C) đến 10 (mười) năm tù;

Dương Duy G từ 07 (bảy) đến 08 (T4)năm tù;

Vật chứng vụ án:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón bảo hiểm có ghi dòng chữ màu trắng “quan trọng là thần thái”, “AXE” của Dương Duy G; - 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón bảo hiểm có ghi dòng chữ “Manchester United" của Nguyễn Thị Hoàng O;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng thu giữ của Dương Duy G; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Hoàng O; 01 xe gắn máy hiệu Sanda Dream, biển số 52Z5 – 1644.

Đề nghị giao trả cho bị hại ông Phạm Công H số tiền 31.000.000 đồng; 01 sợi dây chuyền kim loại bằng vàng có mặt dây chuyền màu vàng có hình con rồng thu giữ của Nguyễn Thị Hoàng O;

Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường phần thiệt hại còn lại;

Trách nhiệm chịu án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O và Dương Duy G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đồng ý bồi thường thiệt hại theo các yêu cầu của các bị hại.

  • Bị hại: Ông Phạm Công H yêu cầu được nhận số tiền 31.000.000đ (Ba mươi mốt triệu), 01 một sợi dây chuyền; 01 một mặt dây chuyền do cơ quan Điều tra thu giữ của bị cáo O; phần thiệt hại còn lại ông không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Ngô Văn T- Chủ tiệm V; (Vắng mặt)
    • Bà Nguyễn Thị Thanh T1 (vắng mặt)
  • Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, nhưng xin Hội đồng xét xử, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn T- Chủ tiệm V; bà Nguyễn Thị Thanh T1 là người mua tài sản do Nguyễn Thị Hoàng O đem đến bán, nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xem xét hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy; Hội đồng tiếp tục xét xử theo khoản 2 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

[2] Lời khai của các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O và Dương Duy G tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; của bị hại; biên bản bắt người và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 10 phút, ngày 30/9/2023; Nguyễn Thị Hoàng O và Dương Duy G lén lút vào nhà số C N, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, lấy trộm của gia đình ông Phạm Công H 72.000.000 đồng tiền mặt; 01 dây chuyền vàng loại 24k, trọng lượng 8 chỉ; 01 lắc đeo tay vàng 24k, trọng lượng 5 chỉ; 01 nhẫn vàng 24k, trọng lượng 5 chỉ; 03 nhẫn vàng 24k, trọng lượng 2 chỉ/1 chiếc; 02 nhẫn vàng 24k, trọng lượng 1 chỉ/1 chiếc; 01 đôi bông tai vàng 18k, trọng lượng 2 chỉ và 200 USD. Tổng trị giá tài sản mà O và G chiếm đoạt là 232.710.400 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O và Dương Duy G đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3; Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, không đúng nếp sống văn minh của xã hội. Nguyễn Thị Hoàng O là người chuẩn bị công cụ, rủ rê đang có một tiền án và đã 07 lần bị kết án về tội trộm cắp nhưng không chịu tu sửa bản thân nên phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa O và G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón bảo hiểm có ghi dòng chữ màu trắng “quan trọng là thần thái”, “AXE” của Dương Duy G; 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón bảo hiểm có ghi dòng chữ “Manchester United” của Nguyễn Thị Hoàng O;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng thu giữ của Dương Duy G; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Hoàng O;

Giao cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; làm thủ tục đăng thông tin truy tìm chủ sở hữu tài sản, trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng, đối với 01 chiếc xe máy hiệu Sanda Dream, biển số 52Z5 – 1644. Nếu hết thời hạn nêu trên mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu) bị cáo O giao nộp. Cơ quan Điều tra đã giao trả cho bị hại ông Phạm Công H 69.000.000đ (Sáu mươi chin triệu) là có căn cứ. Số còn lại 31.000.000đ (ba mươi mốt triệu); 01 một sợi dây chuyền; 01 mặt dây chuyền, bị hại ông Phạm Công H xin nhận lại và cấn trừ toàn bộ nghĩa vụ bồi thường cho các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận;

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường;

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ theo quy định của pháp luật. Án phí dân sự số tiền bồi thường?

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 3; Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O và Dương Duy G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O 10 (M1) năm tù;

Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023.

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt Dương Duy G 08 (T4) năm tù

Thời hạn từ tính từ ngày 20/10/2023.

2. Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội gồm: 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón bảo hiểm có ghi dòng chữ màu trắng “quan trọng là thần thái”, “AXE” của Dương Duy G; 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón bảo hiểm có ghi dòng chữ “Manchester United” của Nguyễn Thị Hoàng O;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng thu giữ của Dương Duy G; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Hoàng O;

Giao cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; làm thủ tục đăng thông tin truy tìm chủ sở hữu tài sản, trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng, đối với 01 chiếc xe máy hiệu Sanda Dream, biển số 52Z5 – 1644. Nếu hết thời hạn nêu trên mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Giao trả cho ông Phạm Công H 31.000.000đ (ba mươi mốt triệu); 01 một sợi dây chuyền; 01 mặt dây chuyền;

(Vật chứng đang lưu kho theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 430C, ngày 22/8/2024; Biên bản giao nhận tang tài vật số 010C, ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)

3. Căn cứ Điều 106;135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc:

Các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O và Dương Duy G mỗi người chịu 200,000₫ (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng N công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án trên khoản tiền chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND TP.HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 545/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 545/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 510/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger