TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 544/2024/DS-PT Ngày: 18-6-2024. V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Điệp.
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Thảo
Bà Lê Thị Mỹ Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thuỳ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Kim Tiển - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 18/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 342/2024/TLPT-DS ngày 08/4/2024: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”; Do bản án dân sự sơ thẩm số 4783/2023/DS-ST ngày 27/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2315/2024/QĐ-PT ngày 03/5/2024 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 7411/2024/QĐ-PT ngày 28/5/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Ông Hà Thái C, sinh năm 1982; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Hà Thái H, sinh năm 1970; Địa chỉ: B Đường số E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Hà Thị Kim H1, sinh năm 1972; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Hà Thị Kim H2, sinh năm 1974; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Hà Thị Kim H3, sinh năm 1980; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Hà Thị Kim P, sinh năm 1984; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Hà Thị Kim T, sinh năm 1986; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Mai Trung Đ, sinh năm 1986; Địa chỉ: A đường T, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Phùng Văn S, sinh năm 1949; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: ông Lê Quang L, sinh năm 1989; Địa chỉ: 7 lô A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 16/01/2024) (có mặt).
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phùng Hoàng T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Phùng Thị T2, sinh năm 1957; Địa chỉ: B đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Phùng Kim H4, sinh năm 1959; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp của ông T1, bà T2 và bà H4: ông Mai Trung Đ, sinh năm 1986; Địa chỉ: A T, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ông Phùng Thanh S1; sinh năm: 1978; Địa chỉ: 2 đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: ông Lê Quang L, sinh năm 1989; Địa chỉ: 7 lô A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 16/01/2024) (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Đại diện Nguyên đơn trình bày:
Ông Phùng Văn Q (sinh năm 1926, chết năm 2004) và bà Hà Thị T3 (sinh năm 1927, chết năm 1984) là vợ chồng sinh được 05 người con gồm;
- - Ông Hà Văn Q1 (sinh năm 1947, chết năm 2019, có vợ là bà Tô Thị H5, chết năm 2019 và 07 người con là ông Hà Thái C, ông Hà Thái H, bà Hà Thị Kim H3, bà Hà Thị Kim P, bà Hà Thị Kim T, bà Hà Thị Kim H2 và bà Hà Thị Kim H1).
- - Ông Phùng Văn S.
- - Bà Phùng Thị T2.
- - Bà Phùng Kim H4.
- - Bà Phùng Thị Á (đã chết năm 2019, có 01 người con tên Phùng Hoàng T1, không có chồng).
Ông Phùng Văn Q và bà Hà Thị T3 có để lại di sản thừa kế là nhà, đất tọa lạc tại địa chỉ số: 24/20/1 (số cũ: 230) đường V, khu phố A, phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Khuôn viên nhà, đất có diện tích khoảng 92,5m², chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc nhà, đất do ông Q, bà T3 sử dụng từ trước năm 1960 đến năm 1984.
Bà T3, ông Q chết không có di chúc.
Năm 1993, ông Hà Văn Q1, bà Tô Thị H5 về ở cùng ông Phùng Văn Q trong nhà, đất này cho đến năm 2019 ông Q1 và bà H5 chết. Thời điểm đó, ông Q1, bà H5 có sửa chữa lại nhà, nâng nền, xây tường ngăn phòng. Sau khi ông Q1, bà H5 mất, thì ông Hà Thái C tiếp tục quản lý, sử dụng nhà, đất này. Đến tháng 10/2019, ông Phùng Văn S đòi chia nhà cho con ông S là ông Phùng Văn S2 vào ở đến nay. Hiện nay, một nửa căn nhà, đất nêu trên do ông C sử dụng, còn một nửa do ông Phùng Thanh S1 sử dụng. Từ khi bà Hà Thị T3 và ông Phùng Văn Q chết đến nay các thành viên trong gia đình chưa thỏa thuận được việc phân chia thừa kế di sản này.
Nay các con của ông Hà Văn Q1 khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo quy định pháp luật đối với di sản thừa kế do ông Phùng Văn Q và bà Hà Thị T3 để lại là nhà, đất tọa lạc tại tại: 24/20/1 (số cũ: 230) Võ Văn N, khu phố A, phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh thành 05 phần cho 05 người thừa kế theo pháp luật.
Ông Hà Văn Q1, ông Phùng Văn S, bà Phùng Thị T2, bà Phùng Kim H4 và bà Phùng Thị Á. Trong đó, ông Q1 và vợ ông Q1 là bà H5 đã chết năm 2019, nên các con của ông Q1 là ông Hà Thái C, ông Hà Thái H, bà Hà Thị Kim H3, bà Hà Thị Kim P, bà Hà Thị Kim T, bà Hà Thị Kim H2 và bà Hà Thị Kim H1 cùng thống nhất để cho ông C được nhận phần thừa kế của ông Hà Văn Q1 mà các ông bà được nhận.
Nguyên đơn thống nhất với kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá số 031222.CNHCM ngày 19/12/2022 của Công ty cổ phần T4, cụ thể giá trị quyền sử dụng đất là 4.229.580.481 đồng, giá trị công trình xây dựng là 69.400.000 đồng. Tổng giá trị của di sản thừa kế nói trên được làm tròn là 4.299.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án áp dụng mức giá này để chia thừa kế theo quy định của pháp luật, không xem xét công sức đóng góp, sửa chữa, nâng nền nhà khi ông Q và bà H5 còn sống thực hiện. Từ khi ông Q và bà H5 chết cho đến nay ông Hà Thái C và ông Phùng Thanh S1 chia đôi căn nhà để sử dụng, giữ nguyên hiện trạng ban đầu.
2. Bị đơn trình bày:
Bị đơn ông Phùng Văn S xác nhận lời trình bày của nguyên đơn về di sản thừa kế, về những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Q và bà T3 là đúng.
Ông Phùng Văn S đồng ý chia phần di sản trên theo quy định của pháp luật, cụ thể yêu cầu chia thành 05 phần bằng nhau cho 05 người con. Đối với phần của ông Hà Văn Q1, bà Phùng Thị Á được hưởng, nhưng ông Q1, bà Á đã chết thì đồng ý chia cho các con ông Q1, bà Á sẽ được nhận theo quy định. Ông Phùng Văn S thống nhất với kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá số 031222.CNHCM ngày 19/12/2022 của Công ty cổ phần T4, cụ thể giá trị quyền sử dụng đất là 4.229.580.481 đồng, giá trị công trình xây dựng là 69.400.000 đồng. Tổng giá trị của di sản thừa kế nói trên được làm tròn là 4.299.000.000 đồng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Phùng Thị T2, bà Phùng Kim H4 và ông Phùng Hoàng T1 có người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Trần L1 và ông Mai Trung Đ trình bày: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về tài sản do ông Q, bà T3 để lại, thống nhất về người thừa kế tại thời điểm mở thừa kế.
Bà Phùng Thị T2, bà Phùng Kim H4 và ông Phùng Hoàng T1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chi di sản thừa kế của nguyên đơn và cùng tự nguyên để lại phần suất thừa kế của mình được chia cho ông Hà Thái C nhận.
3.2. Ông Phùng Thanh S1 trình bày: Ông S1 là con ruột của ông Phùng Văn S hiện tại đang cư ngụ trong căn nhà 24/20/1 (số cũ: 230) đường V, khu phố A, phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh là di sản thừa kế các bên đang tranh chấp. Ông Phùng Thanh S1 thống nhất với ý kiến của bị đơn ông Phùng Văn S, ngoài ra ông S1 không có ý kiến hoặc yêu cầu gì khác.
4. Bản án sơ thẩm 4783/2023/DS-ST ngày 27/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Di sản thừa kế của ông Phùng Văn Q và bà Hà Thị T3 là phần đất có diện tích 92,5m² và nhà xây dựng trên đất có diện tích 53,5m², kết cấu tường gạch, mái tôn, gác gỗ và nền gạch men, thuộc tờ bản đồ số 2 (tài liệu năm 2005 - Bộ địa chính phường T) tọa lạc tại địa chỉ 24/20/1 (số cũ B) đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện trạng nhà, đất được mô tả và xác định vị trí theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 24052/TTĐĐBĐ-CNTĐ và Bản vẽ hiện trạng nhà số 24052/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 24/6/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H có tổng giá trị là 4.299.000.000 đồng chia đều 05 suất thừa kế cho 05 người con là ông Hà Văn Q1, ông Phùng Văn S, bà Phùng Thị T2, bà Phùng Kim H4 và bà Phùng Thị Á, mỗi suất thừa kế chia theo pháp luật được hưởng theo giá trị bằng tiền là 859.800.000 đồng (tương đương với 18,5m² đất và 10,7m² nhà được chia).
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hà Thái H, bà Hà Thị Kim H3, bà Hà Thị Kim P, bà Hà Thị Kim T, bà Hà Thị Kim H2 và bà Hà Thị Kim H1 về việc đồng ý ông Hà Thái C được nhận trọn suất thừa kế chia cho ông Hà Văn Q1 có giá trị bằng tiền là 859.800.000 đồng (tương đương với 18,5m² đất và 10,7m² nhà được chia).
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phùng Thị T2 về việc đồng ý để lại cho ông Hà Thái C được nhận trọn suất thừa kế chia cho bà Phùng Thị T2 có giá trị bằng tiền là 859.800.000 đồng (tương đương với 18,5m² đất và 10,7m² nhà được chia).
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phùng Kim H4 về việc đồng ý để lại cho ông Hà Thái C được nhận trọn suất thừa kế chia cho bà Phùng Kim H4 có giá trị bằng tiền là 859.800.000 đồng (tương đương với 18,5m² đất và 10,7m² nhà được chia).
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phùng Hoàng T1 về việc đồng ý để lại cho ông Hà Thái C được nhận trọn suất thừa kế chia cho bà Phùng Thị Á có giá trị bằng tiền là 859.800.000 đồng (tương đương với 18,5m² đất và 10,7m² nhà được chia).
- Giao cho ông Hà Thái C được quyền sử dụng phần đất có diện tích 92,5m² và quyền sở hữu nhà xây dựng trên đất có diện tích 53,5m², kết cấu tường gạch, mái tôn, gác gỗ và nền gạch men, thuộc tờ bản đồ số 2 (tài liệu năm 2005 – Bộ địa chính phường T) tọa lạc tại địa chỉ 24/20/1 (số cũ B) đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện trạng nhà, đất được mô tả và xác định vị trí theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 24052/TTĐĐBĐ-CNTĐ và Bản vẽ hiện trạng nhà số 24052/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 24/6/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Ông Hà Thái C có trách nhiệm hoàn lại cho ông Phùng Văn S số tiền 859.800.000 đồng, bằng 01 suất thừa kế ông S được chia theo pháp luật (tương đương với 18,5m² đất và 10,7m² nhà được chia).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thanh toán, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 04/01/2024, ông Phùng Văn S kháng cáo đề nghị huỷ án sơ thẩm để định giá lại tài sản và giám định chữ ký trên văn bản thoả thuận ngày 02/5/2019.
Ngày 08/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐKNPT-VKS-DS yêu cầu huỷ án sơ thẩm với lý do theo xác minh của Ủy ban nhân dân quận T thì nguồn gốc đất là của Giáo xứ T5 sử dụng, ông Q thuê đất cất nhà nên cần đưa Giáo xứ T5 tham gia tố tụng và cần xác minh lý do vì sao căn nhà trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.
5. Tại phiên toà phúc thẩm:
- + Nguyên đơn bổ sung chứng cứ mới là Giấy xác nhận của Chánh xứ Giáo xứ T5 xác nhận không tranh chấp nhà đất lạc tại địa chỉ 24/20/1 (số cũ B) đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- + Bị đơn trình bày: Bị đơn đề nghị xem xét lại giá thẩm định và văn bản thoả thuận giữa các anh chị em ngày 02/5/2019.
- + Ông Hà Thái C đồng ý nâng số tiền hoàn trả cho ông Phùng Văn S là 1.000.000.000 đồng trong thời hạn 02 tháng. Đại diện hợp pháp của ông S và ông Phùng Thanh S1 đồng ý nhận số tiền này. Khi ông C giao đủ số tiền trên thì ông S và gia đình ông S1 sẽ giao trả phần diện tích nhà đất đang sử dụng cho ông Hà Thái C.
- + Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- - Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Phùng Văn S và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn luật định. Quá trình tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- - Về nội dung:
- Nguyên đơn đã xuất trình Giấy xác nhận của Chánh xứ Giáo xứ T5 xác nhận không tranh chấp nhà đất trên nên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ kháng nghị số 07/QĐKNPT-VKS-DS ngày 08/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tại phiên toà phúc thẩm, ông C, ông S, ông S1 đã thoả thuận về việc giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Những vấn đề khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đề nghị giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của ông Phùng Văn S nộp trong thời hạn, phù hợp quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn luật định. Do đó, bản án sơ thẩm số 4783/2023/DS-ST ngày 27/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
2. Về nội dung:
2.1. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã rút lại kháng nghị số 07/QĐKNPT- VKS-DS ngày 08/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh do đó Hội đồng xét xử không xem xét kháng nghị.
2.2. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Cấp sơ thẩm phân chia di sản thừa kế theo pháp luật, ghi nhận việc tặng cho kỷ phần thừa kế là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc cấp sơ thẩm tuyên số tiền mỗi người được hưởng được tính tương đương diện tích đất và nhà trong khi diện tích nhà đất trên không đủ để tách thửa là không phù hợp, không thể thi hành án, nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cách tuyên và xác định phần thừa kế mỗi người được hưởng tương đương tỷ lệ giá trị di sản.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn và ông Phùng Thanh S1 thống nhất thoả thuận số tiền thanh toán, thời gian thanh toán và giao phần diện tích sử dụng nên ghi nhận.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho ông Phùng Văn S.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
I. Về hình thức:
- - Chấp nhận việc Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút kháng nghị số 07/QĐKNPT-VKS-DS ngày 08/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phùng Văn S.
II. Về nội dung:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm kháng nghị số 07/QĐKNPT-VKS-DS ngày 08/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phùng Văn S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 4783/2023/DS-ST ngày 27/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
- 2.1. Xác định tài sản thừa kế của ông Phùng Văn Q và bà Hà Thị T3 là phần đất có diện tích 92,5m² và nhà xây dựng trên đất có diện tích 53,5m², kết cấu tường gạch, mái tôn, gác gỗ và nền gạch men, thuộc tờ bản đồ số 2 (tài liệu năm 2005 - Bộ địa chính phường T) tọa lạc tại địa chỉ 24/20/1 (số cũ B) đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 24052/TTĐĐBĐ-CNTĐ và Bản vẽ hiện trạng nhà số 24052/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 24/6/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H giá trị là 4.299.000.000 đồng.
- 2.2. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Phùng Văn Q và bà Hà Thị T3 tại thời điểm mở thừa kế là 05 người: ông Hà Văn Q1, ông Phùng Văn S, bà Phùng Thị T2, bà Phùng Kim H4 và bà Phùng Thị Á.
- 2.3. Di sản ông Phùng Văn Q và bà Hà Thị T3 được chia theo pháp luật. Ông Hà Văn Q1 (chết, có người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là ông Hà Thái C, ông Hà Thái H, bà Hà Thị Kim H3, bà Hà Thị Kim P, bà Hà Thị Kim T, bà Hà Thị Kim H2 và bà Hà Thị Kim H1), ông Phùng Văn S, bà Phùng Thị T2, bà Phùng Kim H4 và bà Phùng Thị Á (chết, có người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là ông Phùng Hoàng T1) mỗi người được nhận 859.800.000 đồng (tương đương 20% giá trị di sản).
- 2.4. Ghi nhận sự thoả thuận của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hà Văn Q1 là ông Hà Thái C, ông Hà Thái H, bà Hà Thị Kim H3, bà Hà Thị Kim P, bà Hà Thị Kim T, bà Hà Thị Kim H2 và bà Hà Thị Kim H1 đồng ý cho ông Hà Thái C phần tài sản thừa kế mà các ông bà được hưởng có giá trị là 859.800.000 đồng (tương đương 20% giá trị di sản).
- 2.5. Ghi nhận sự tự nguyện của người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Phùng Thị Á là ông Phùng Hoàng T1 đồng ý cho ông Hà Thái C phần tài sản thừa kế mà các ông được hưởng có giá trị là 859.800.000 đồng (tương đương 20% giá trị di sản).
- 2.6. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phùng Thị T2, bà Phùng Kim H4 đồng ý cho ông Hà Thái C phần tài sản thừa kế mà hai bà được hưởng có tổng giá trị là 1.719.600.000 đồng (tương đương 40% giá trị di sản).
- 2.7. Ông Phùng Văn S được hưởng thừa kế có giá trị là 859.800.000 đồng (tương đương 20% giá trị di sản). Ghi nhận sự thoả thuận của ông C, ông S, ông S1: ông Hà Thái C có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Phùng Văn S số tiền 1.000.000.000 đồng trong thời hạn 02 tháng. Sau khi nhận được số tiền trên, ông Phùng Văn S và gia đình ông Phùng Văn S2 có nghĩa vụ giao trả toàn bộ phần diện tích nhà đất đang sử dụng tại địa chỉ 24/20/1 (số cũ B) đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Hà Thái C.
- Trường hợp ông Hà Thái C chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông Phùng Văn S thì còn phải chịu thêm tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20%/năm trên số tiền phải hoàn trả; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Bộ luật Dân sự là 10%/năm.
- 2.8. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ hoàn tiền cho ông Phùng Văn S, ông Hà Thái C được trọn quyền sử dụng và sở hữu nhà, đất tọa lạc tại địa chỉ 24/20/1 (số cũ B) đường V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 24052/TTĐĐBĐ-CNTĐ và Bản vẽ hiện trạng nhà số 24052/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 24/6/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H) và được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục đứng tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.
- 3. Về chi phí tố tụng: Ông Hà Thái C tự nguyện chịu.
- 4. Về án phí:
- 4.1. Án phí Dân sự sơ thẩm:
- - Miễn án phí cho ông Phùng Văn S, bà Phùng Thị T2 và bà Phùng Kim H4.
- - Ông Hà Thái C phải nộp tổng cộng là 75.588.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 5.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0059280 ngày 21/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hà Thái C còn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm còn lại là 70.588.000 đồng.
- 4.2. Án phí phúc thẩm: Miễn án phí cho ông Phùng Văn S.
- 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
- 6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Điệp |
Bản án số 544/2024/DS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 544/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Hà Thái C khởi kiện tranh chấp thừa kế với ông Phùng Văn S
