Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 544/2023/HS-PT

Ngày: 28-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Tồn

Các thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Nguyễn Tấn Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến phần xử lý vật chứng trong vụ án hình sự thụ lý số 465/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Lê Tự H và Lê Tự H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Bị cáo bị kháng nghị

  1. Lê Tự H, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1989 tại: Đ, Quảng Nam; nơi cư trú: thôn T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Tự N (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; sinh năm 1965; vợ Nguyễn Thị Đ; sinh năm 1989; bị cáo có 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 02/9/2011, bị Công an thị xã Đ xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Vắng mặt.

  2. Lê Tự H1 (em ruột bị cáo H), sinh ngày 16 tháng 3 năm 1993 tại: Đ, Quảng Nam; nơi cư trú: thôn T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Tự N (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; sinh năm 1965; vợ Lê Thị Ngọc M; sinh năm 1996; bị cáo có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 20/3/2014, bị Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn tuyên phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản".

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989; trú tại: T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (vợ bị cáo H). Vắng mặt.

  2. Bà Lê Thị Ngọc M1, sinh năm 1996; trú tại: T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (vợ bị cáo H1). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 05/12/2021, Lê Tự H ngồi nhậu tại quán L (thuộc thôn T, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam) cùng với Lê Tự H1, Nguyễn Hữu Phú Q, Lê Tự Đ1, Ngô Thành C, Đặng Văn H2 (cùng trú thôn T, xã Đ, thị xã Đ) và Hà Hoài N1(thôn T, xã Đ, thị xã Đ). Trong lúc nhậu, H có nói chuyện điện thoại với Trần Phước S (trú thôn B, xã Đ, thị xã Đ) thì giữa H và S xảy ra mâu thuẫn, hai bên thách thức, hẹn đến đoạn đầu đường C thuộc xã Đ Bắc, để đánh nhau. Những người nhậu cùng H đều nghe và biết việc H và S hẹn gặp để đánh nhau.

Sau đó, Lê Tự H điều khiển xe mô tô YAMAHA JANUS biển số 92D1 – 532.15 của H chở Ngô Thành C về nhà H lấy 04 cây gỗ thang giường (giường cũ đã hỏng bỏ ở sau nhà); Lê Tự Đ1 chở Nguyễn Hữu Phú Q về nhà Q, để Q lấy cây Mác (dao phát cỏ) mang theo rồi chạy thẳng xuống hướng đầu đường C; Lê Tự H1, Đặng Văn H2 và Hà Hoài N1 ngồi lại một lúc rồi H1 điều khiển xe mô tô HONDA BLADE, biển số 92D1 – 732.53 của H1 chở H2 đi trước; Nam tính tiền rồi đi sau. Trên đường đi, H1 và H2 gặp H, C, Đ1, Q mang theo cây gỗ chạy xuống hướng đầu đường C. Lúc này, C có gọi cho Trương Công T (trú thôn T, xã Đ, thị xã Đ) và Nguyễn Văn M2 (trú thôn T, xã Đ, thị xã Đ) đi cùng và tất cả tập trung ở đầu đường C chờ Sỹ. Tại đây, nhóm H có lấy 1 cái xẻng, gạch và cây gỗ ở công trình xây dựng để sử dụng khi đánh nhau.

Khi Lê Tự H chở Ngô Thành C đi qua đoạn đường trước quán C1, nhìn thấy Nguyễn Hữu Thanh L1 (trú thôn T, xã Đ, thị xã Đ) ngồi trong quán cà phê, H dừng xe lại nói với L1 “đi xuống đây với tôi xỉ” L1 đi ra, H đưa cho L1 một cây thang giường, L1 cầm và ngồi lên xe, sau đó H chở C và L1 cùng đi. Hà Hoài N1 sau khi thanh toán tiền nhậu tại quán L thì chạy đến khu vực đầu đường C.

Nhóm H đứng chờ tại đây theo hẹn của S khoảng 5-10 phút. Không thấy S đến, nên H rủ cả nhóm cùng đi đến nhà S ở Điện Thắng B để tìm S. Lúc này, L1 quay về mượn xe mô tô của chị H3 chủ quán cà phê F và chở N1, L1 cầm theo cây thang giường do H đưa, rồi đi theo nhóm của H ra nhà của S. Khi ra nhà S, thấy S không có ở nhà nên nhóm của H tiếp tục đi tìm S. Khi nhóm của H chạy đến quán cà phê Ngọc A (của ông Nguyễn Văn T1) ở thôn V, xã Đ, thị xã Đ thì phát hiện S đang ngồi trong quán nên cả nhóm dừng lại. Do sợ anh T1 biết mặt nên Hà Hoài N1 không đi theo cùng L1 và nhóm của H vào quán cà phê mà xuống xe, đứng cách quán khoảng 70m để mình L1 đi theo nhóm của H. Khi vào quán cà phê, H cầm cây thang giường, Q cầm cây thang giường (do H đưa) và một cây M3 đi vào quán. H chỉ tay vào mặt S nhưng được anh T1 và Nguyễn Đ2 (trú thôn V, xã Đ, thị xã Đ) can ngăn, đẩy ra ngoài. Lúc này, H1 cầm cây thang giường (do H đưa), có kích thước (118 x 3,3 x 4,8) cm xông vào đánh 3 cái vào người anh S, trong đó có 1 phát trúng vào vùng đầu của S (H1 dùng hai tay cầm cây gỗ, dơ cao theo phương thẳng đứng rồi đánh theo hướng từ trên xuống dưới vào vùng đỉnh đầu của S) làm Sỹ ngã xuống nền nhà. Cùng lúc này, M2 cầm xẻng (do Q lấy tại công trình ở bên đường 33 đưa) và gạch nhưng chỉ dùng xẻng đánh vào người S 3 cái (viên gạch thì vứt dưới nền nhà); Q cũng cầm cây gỗ xông vào đánh S 1 cái; Đ1 cầm gạch nhưng không ném mà dùng chân đá vào người S 03 cái vào vùng lưng; Nguyễn Hữu Thanh L1 trên tay đang cầm cây thang giường xông vào định đánh nhưng nhìn thấy S bị đánh gục xuống nền nhà và đang bị H1 cầm áo lôi đi nên L1 dừng lại không đánh mà can ngăn H1 ra. Sau đó, nhóm của H rút ra phía ngoài cổng để đi về, anh S bị thương tích ở vùng đỉnh đầu, chảy máu, đau ở vùng ngực - hông trái và 2 cánh tay, nằm tại nền nhà. Trong quá trình can ngăn, anh Nguyễn Đức x ra xô xát với một số người trong nhóm H, do bực tức nên Đ2 vào trong quán, cởi áo lấy 01 cây sắt chạy ra ngoài để đánh nhau. Khi Đ2 vừa ra, đòi đánh nhau với Đặng Văn H2 thì Đ2 bị Trương Công T dùng cây gỗ, có diện khoảng (100 x 3,8 x 5,6cm (cây gỗ cốp pha xây dựng, đã có dấu hiệu mục T lấy tại công trình ở đường C) đánh trúng vào vùng trán bị thương (T dùng tay trái đưa cây gỗ lên trên theo phương thẳng đứng, dùng lực đánh theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng trán của Đ2) làm rách da trán, chảy máu.

Tại Bản giám định thương tích số 506/GĐTT.21 ngày 24/12/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Q xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Phước S là 08%. Trong đó, vết thương ở vùng đỉnh đầu (06%) do vật tày có cạnh tác động gây nên, lực tác động vừa phải. Vùng đầu là vùng nguy hiểm, liên quan tương ứng bên trong xương hộp sọ là tổ chức não.

Tại Bản giám định thương tích số 507/GĐTT.21 ngày 24/12/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Q xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Đ2 là 08%. Vết thương ở vùng trán, chếch về bên trái do vật tày có cạnh tác động gây nên, lực tác động tương đối mạnh. Vùng đầu là vùng nguy hiểm, liên quan tương ứng bên trong xương hộp sọ là tổ chức não.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Lê Tự H, Lê Tự H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Bị cáo Lê Tự H 02 (Hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 19/4/2022.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Tự H thời hạn 45 (Bốn lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/8/2023) để đảm bảo cho việc thi hành án.

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Q áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    - Xử phạt: Bị cáo Lê Tự H1 18 (Mười tám) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 19/4/2022.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Tự H1 thời hạn 45 (Bốn lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/8/2023) để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 03 (Ba) khối gạch với nhiều kích thước khác nhau; 01 (Một) viên gạch 6 lỗ, có diện (16 x 7,3 x 9,1) cm; 01 (Một) đoạn cây bằng gỗ có diện (4 x 6 x 48) cm; 01 (Một) đoạn cây bằng gỗ có diện (118 x 3 x 4,6) cm; 01 (Một) đoạn cây bằng gỗ có diện (118 x 3,3 x 4,8) cm; 01 (Một) đoạn cây bằng gỗ có diện (118 x 3,8 x 4,9) cm; 01 (Một) cái xẻng dài 207 cm, phần cán bằng tre dài 175cm, phần lưỡi bằng kim loại có diện (18,5 x 23) cm.

  • - Giao trả 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: JANUS, màu sơn: Xám Đen; biển số 92D1-532.15, số máy: E3Y8E042383, số khung: C820HY042374, tên chủ xe: LÊ TỰ HƯNG, địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, Đ, Quảng Nam cho bị cáo Lê Tự H và 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: BLADE, màu sơn: Đỏ Đen; biển số: 92D1-732.53; số máy: JA36E0792093, số khung: 3631 KY 010139, tên chủ xe: LÊ TỰ HẢI, địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, Đ, Quảng Nam cho bị cáo Lê Tự H1.

Các vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/5/2023.

- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (Một) đĩa DVD bên trong có đoạn video dài 14 phút 39 giây, ghi nhận lại sự việc xảy ra vào ngày 05/12/2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khác trong vụ án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm tuyên tịch thu 02 xe mô tô mang tên chủ xe Lê Tự H và Lê Tự H1.

Tại phiên tòa

Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐ-VC2 ngày 21/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, đề nghị HĐXX phúc thẩm tuyên tịch thu 02 xe mô tô mang tên chủ xe Lê Tự H và Lê Tự H1 để sung vào ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét kháng nghị của VKS đề nghị tuyên tịch thu 02 xe mô tô mang tên chủ xe Lê Tự H và Lê Tự H1 thì thấy; Lê Tự H đã dùng Xe YAMAHA JANUS biển số 92D1 – 532.15 và Lê Tự H1 đã sử dụng xe HONDA BLADE biển số 92D1 - 732.53 do các bị cáo đứng tên chủ sở hữu, để chở đồng bọn mang theo hung khí đi đánh nhau. Sau khi gây án xong H và H1 đều sử dụng 2 xe trên chở theo đồng bọn và hung khí vụ án rời khỏi hiện trường. Quá trình điều tra, tại bản cung ngày 06/12/2021 tại bút lục 79,82,116, 117 và 118 các bị cáo H và H1 đều khẳng định hai xe mô tô nêu trên là của các bị cáo đứng tên chủ sở hữu sử dụng cùng đồng bọn đánh nhau.

Như vậy; các phương tiện nêu trên đã được các bị cáo Lê Tự H và Lê Tự H1 dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội “gây rối trật tự công cộng” ngày 05 tháng 12 năm 2021. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự quy định: Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội. Cũng tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Vật chứng là công cụ phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy. Án sơ thẩm đã nhận định, hai chiếc xe mô tô nêu trên là tài sản chung của vợ chồng nhưng không có tài liệu minh chứng và không phải là công cụ phương tiện phạm tội nên giao trả lại cho các bị cáo sử dụng là trái với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và quy định tại điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là có căn cứ chấp nhận, nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận quyết định kháng nghị, sửa án sơ thẩm về phần vật chứng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐ-VC2 ngày 21/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng;

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, về phần xử lý vật chứng.

  1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tuyên xử :

    - Tịch thu 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: JANUS, màu sơn: Xám Đen; biển số 92D1-532.15, số máy: E3Y8E042383, số khung: C820HY042374, tên chủ xe: LÊ TỰ HƯNG, địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, Đ, Quảng Nam và 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: BLADE, màu sơn: Đỏ Đen; biển số: 92D1-732.53; số máy: JA36E0792093, số khung: 3631 KY 010139, tên chủ xe: LÊ TỰ HẢI, địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, Đ, Quảng Nam bán đấu giá sung công quỹ nhà nước.

    Các vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/5/2023.

  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Tự H và Lê Tự H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Quảng Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Nam;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tồn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 544/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 544/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐ-VC2 ngày 21/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, về phần xử lý vật chứng. 1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên xử : - Tịch thu 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: JANUS, màu sơn: Xám Đen; biển số 92D1-532.15, số máy: E3Y8E042383, số khung: C820HY042374, tên chủ xe: LÊ TỰ HƯNG, địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, Đ, Quảng Nam và 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: BLADE, màu sơn: Đỏ Đen; biển số: 92D1-732.53; số máy: JA36E0792093, số khung: 3631 KY 010139, tên chủ xe: LÊ TỰ HẢI, địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, Đ, Quảng Nam bán đấu giá sung công quỹ nhà nước. Các vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/5/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger