TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 542/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thành Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Huỳnh Phi Hổ
Bà: Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Lê Văn Thanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 533/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 535/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Quốc N, sinh năm: 1996 tại tại An Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Nơi đang cư trú: 76A/HV, tổ C, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn H, sinh năm: 1966 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1969; Chưa có vợ, con; Tiền án: ngày 06/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số: 206/2020/HS-ST); Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ ngày 28 tháng 6 năm 2024, hiện đang được tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
(Bị cáo Đặng Quốc N có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Quốc N là người đang sử dụng trái phép chất ma túy.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28/6/2024, N điều khiển xe môtô biển số: 61F7-6945 đi đến khu vực ngã tư Vũng Tàu thuộc khu phố B, phường L, thành phố B mua của 01 người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 tép ma túy tổng hợp (dạng đá) với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Sau đó, N cất giấu ma túy vào túi áo bên trái rồi đi về
lại phòng trọ của N tại số : 76A/HV, tổ C, khu phố A, phường L, thành phố B để sử dụng tép ma túy vừa mua được.
Đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày, khi N đi đến khu vực trước nhà số: 41B/HV, tổ H, khu phố A, phường L, thành phố B thì bị Công an phường L kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang N cùng với tép ma túy nêu trên.
Vật chứng được thu giữ trong vụ án:
- 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu có chứa ma túy tổng hợp (dạng đá).
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có số Imei 1: 868683041632153 và số Imei 2: 868683041632146.
- 01 xe môtô biển số: 61F7-6945. Qua xác minh thì xe môtô nêu trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Đặng Văn H. Khi cho N mượn xe thì ông H không biết việc N sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã giao trả xe lại cho ông H.
Tại Kết luận giám định số: 1344/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Đ xác định: "Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,128 gam, loại Methamphetamine".
Tại Cáo trạng số: 516/CT-VKSBH-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Đặng Quốc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Đặng Quốc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt Đặng Quốc N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự để:
- + Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án.
- + Trả lại cho Đặng Quốc N 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có số Imei 1: 868683041632153 và số Imei 2: 868683041632146 do không liên quan đến việc thực hiện tội phạm.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa cho mình và cũng không yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu khác ngoài những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án ra xem xét tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
Trong quá trình điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên nên các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/6/2024, tại khu vực trước nhà số: 41B/HV, tổ H, khu phố A, phường L, thành phố B; Đặng Quốc N đã có hành vi tàng trữ 0,128 gam ma túy loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi thực hiện tội phạm của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với những nội dung mà Cáo trạng đã viện dẫn và truy tố.
Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đặng Quốc N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo còn phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về quyết định hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo; căn cứ vào nhân thân; các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì cần có mức án nghiêm, tiếp tục cách ly ra khỏi xã hội một thời gian đối với bị cáo mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[6]. Về các vấn đề khác có liên quan:
- Đối với đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ và sẽ xử lý sau.
- Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có số Imei 1: 868683041632153 và số Imei 2: 868683041632146 là tài sản hợp pháp của bị cáo và không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên cần giao trả lại cho bị cáo.
[7]. Về tiền án phí: bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Đặng Quốc N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 28 tháng 6 năm 2024.
- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói ma túy niêm phong số: 1344/KL-KTHS ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Quốc N 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có số Imei 1: 868683041632153 và số Imei 2: 868683041632146.
(Tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Đặng Quốc N phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- Bị cáo Đặng Quốc N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Tân |
Bản án số 542/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 542/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt tù giam
