TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 541/2024/HS-ST Ngày: 27/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh .
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Khánh Loan.
Ông Trần Hữu Hậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 537/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 538/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:
1/ Họ và tên: Trần Minh Đ (tên gọi khác: không), sinh năm 1992, tại tỉnh Hà Tĩnh. Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Trần Khắc T, sinh năm 1965 (còn sống) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 (còn sống). Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 26/5/2024, sau đó chuyển lệnh tạm giam theo Lệnh tạm giam số 1050/LTG ngày 03/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh Đ là người sử dụng trái phép chất ma tuý tổng hợp (hàng khay và thuốc lắc). Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/5/2024, tại quán nước khu vực “Bờ Kè” thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Đ điện thoại cho người thanh niên (không rõ tên, lai lịch) hỏi mua ma túy để sử dụng. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe gắn mô tô biển số 60B4-507.73 chở anh Nguyễn Phương H1 (Sinh năm 2002, ngụ tại ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai) đi đến khu vực “Cầu H" thuộc tổ G, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo chỉ dẫn của người của người bán ma túy. Khi đến khu vực “Vòng xoay H”, Đ nhờ anh H1 trông giữ xe rồi Đ đi bộ vào đường hẻm gần đó gặp và mua của người thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) 05 (Năm) viên ma túy tổng hợp (thuốc lắc) cùng 01 (Một) gói ma túy tổng hợp (hàng khay) với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Đăng cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên trái Đ đang mặc rồi quay lại chỗ anh H1.
Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi Đ vừa đi đến chỗ anh H1 đang đứng thì bị Tổ tuần tra giao thông Công an thành phố B phối hợp với Công an phường H đi đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đ đang giấu số ma túy nếu trên trong túi quần phía trước bên trái Đ đang mặc (Anh H1 không biết việc Đ liên lạc, mua và cất giấu ma túy). Quá trình điều tra, Trần Minh Đ khai nhận hành vi phạm tội như trên.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (Một) gói nylong bên trong có chứa 05 (Năm) viên nén màu vàng (niêm phong gửi giám định ký hiệu M1).
- - 01 (Một) gói nylong bên trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong gửi giám định ký hiệu M2).
- - 01 (Một) xe mô tô biển số 60B4-507.73 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO A95 – số Imei 869929057829517 của Trần Minh Đ sử dụng là phương tiện liên lạc mua ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 1121/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:
- - Mẫu các viên nén chất màu vàng (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng: 1,770gam, loại MDMA.
- - Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 2,837gram, loại Ketamine.
Quá trình điều tra, Trần Minh Đ và anh Nguyễn Phương H1 đều khai anh H1 không biết, không liên quan việc Đ mua và cất giấu ma túy; Đ khai không nhớ số điện thoại của người thanh niên mua bán ma túy cho Đ, sau khi mua ma túy Đ đã xóa toàn bộ thông tin liên lạc với người bán ma túy trong điện thoại của Đ. Cơ quan điều tra đang xác minh về nhật ký cuộc gọi của Đ để làm rõ về số điện thoại và chủ thuê bao đã liên lạc với Đ thực hiện mua bán ma túy nhưng chưa có kết quả.
Tại Bản cáo trạng số: 528/CT-VKSBH-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Trần Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt bị cáo Trần Minh Đ mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B4-507.73 và 01 (Một) điện thoại di động hieuj Oppo A95 – số Imei 869929057829517 của Trần Minh Đ là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
- - Đối với anh Nguyễn Phương H1 quá trình điều tra làm rõ anh H1 không biết Trần Minh Đ đi mua và cất giấu ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý.
Đối với người thanh niên (không rõ tên, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh Đ đã khai nhận: Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 25/5/2024, tại khu vực vòng xoay H thuộc tổ G, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Trần Minh Đ có hành vi tàng trữ trái phép 1,770 gam ma túy loại MDMA và 2,837 gam ma túy loại Ketamine thì bị Tổ tuần tra giao thông Công an thành phố B phối hợp với Công an phường H phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra, Trần Minh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời khai người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Minh Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như nội dung bản cáo trạng số: 528/CT-VKSBH ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo biết rõ việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn vi phạm. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ lớn (4,607gram). Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo chưa có tiền án tiền sự; Bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự; Cha của bị cáo là người có công với Cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B4-507.73 số khung RLCS5C6KOGY265767, số máy 5C6K265766 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo A95 – số Imei 869929057829517 của Trần Minh Đ là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
(Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa ngày 12/9/2024).
[6] Vấn đề khác của vụ án:
- - Đối với anh Nguyễn Phương H1 quá trình điều tra làm rõ anh H1 không biết Trần Minh Đ đi mua và cất giấu ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý là phù hợp.
- - Đối với người thanh niên tên (không rõ tên, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Đối với mức án Viện kiểm sát đề nghị không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ: 04 (bốn) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B4-507.73 số khung RLCS5C6KOGY265767, số máy 5C6K265766 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo A95 số Imei 869929057829517 của Trần Minh Đ là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
(Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa ngày 12/9/2024).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh |
Bản án số 541/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 541/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Đ tàng trữ trái phép chất ma túy
