Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 541/2024/DS-PT

Ngày: 17-6-2024

“V/v Tranh chấp về đòi lại giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
và quyền sử dụng đất ở”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng

Các thẩm phán:Bà Lê Thị Mỹ Nhung

Bà Mai Thị Mỹ Tiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Tòa án, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2024/TLPT-DS ngày 26/02/2024 về việc “Tranh chấp về đòi lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” do Bản án dân sự sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1513/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6918/2024/QĐPT-DS ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1968; địa chỉ: 5 T, tổ G, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

Bị đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm: 1965; địa chỉ: G T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trọng C, sinh năm: 1981; địa chỉ: 4 L, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Khánh T1, sinh năm: 1962; địa chỉ: I L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt)

3.2. Ông Hồ Văn H; địa chỉ: 5 T, tổ G, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

3.3. Bà Hồ Thị Thúy H1; địa chỉ: D, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

3.4. Bà Hồ Thị Y; địa chỉ: B, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

3.5. Ông Trần Văn N1; địa chỉ: 1, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

3.6. Bà Lê Thị C1; địa chỉ: D, đường T, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm:

Ý kiến trình bày của nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Kim T (Viết tắt là “bà T”) tại Đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2019 và tại Tòa án như sau: Ngày 10/11/2009, bà T và ông Trần Văn N1 (Viết tắt là “ông N1”) có mua của bà Phan Thị N (Viết tắt là “bà N”) một phần căn nhà và đất diện tích 77m² tại địa chỉ 5 T, tổ G, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh mang tên ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị Y, giá 900.000.000 (Chín trăm triệu) đồng. Lúc đó bà N (Cò đất, kinh doanh địa ốc) có cam kết là bà N giữ sổ chính, các giấy tờ liên quan để làm thủ tục tách sổ căn nhà này cho bà T và ông N1, khi nào bà T nhận sổ thì bà T có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng cho bà N theo Giấy biên nhận ngày 03/9/2009 giữa hai bên. Quá lâu mà vẫn chưa xong thủ tục tách sổ, nhiều lần hỏi bà N nhưng bà T chưa nhận được câu trả lời chính thức khi nào. Bà T khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bà N và ông T1 trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do U cấp cho bà Phan Thị G, đăng ký biến động chuyển nhượng cho ông N1 và bà T ngày 10/11/2009.

Ý kiến trình bày của bị đơn - Bà Phan Thị N tại Bản tự khai ngày 29/12/2020 như sau: Bà N xác nhận sự việc trên như bà T đã nêu. Lý do bà N chưa trả cho bà T bản chính giấy chứng nhận nhà đất trên là vì bà T đi kiện nên cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa cho tách sổ, hồ sơ tách sổ thì đã nộp rồi nhưng bà N không nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc này. Bà N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T. Đại diện theo ủy quyền của bà N thống nhất với ý kiến của bà N.

Ý kiến trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ông Nguyễn Khánh T1 tại Bản tự khai ngày 29/12/2020 và theo cam kết ngày 02/7/2019 giữa bà N với ông T1 như sau: Ngày 12/4/2010, ông N1 bán lại phần nhà đất của ông N1 cho bà Hồ Thị Thúy H1 công chứng tại Phòng C2. Ngày 02/9/2014, ông T1 ký với bà N hợp đồng giấy tay để mua phần nhà đất của bà H1 (Cháu ruột của bà N) với giá 740.000.000 đồng, đã thanh toán 690.000.000 đồng còn lại 50.000.000 đồng khi ra công chứng sẽ trả dứt (Đến nay không công chứng); bà N chịu chi phí làm sổ 25.000.000 đồng khi nào xong sẽ trả cho ông T1, ông T1 được giữ sổ chính để đi làm sổ. Bà H1 có làm Giấy ủy quyền ngày 02/7/2019 cho ông T1 được toàn quyền quyết định. Ông T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại đều vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án, không trình bày ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

Bản án sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; quyết định:

1. Buộc bà N và ông T1 phải trả lại cho bà T bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp cho bà Phan Thị G ngày 12/11/2003, đăng ký biến động chuyển nhượng tên ông Trần Văn N1 và bà Nguyễn Thị Kim T ngày 10/11/2009. Bà T được tạm thời sử dụng, quản lý giấy chứng nhận nếu được bà N và ông T1 trả lại. Bà T cũng cam kết không gây khó dễ sau khi nhận lại bản chính giấy chứng nhận nhà đất này nếu các bên liên quan có đi làm giấy tờ nhà đất sau này, bà T sẵn sàng hợp tác.

Ghi nhận việc bà T trả lại số tiền 50.000.000 đồng cho bà N ngay sau khi nhận được bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên.

Trường hợp bà N và ông T1 không thực hiện trả lại cho bà T bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp ngày 12/11/2003 cho bà Phan Thị G đăng ký biến động chuyển nhượng tên ông Trần Văn N1 và bà Nguyễn Thị Kim T ngày 10/11/2009 thì hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp ngày 12/11/2003, và bà T được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền xin cấp mới giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/11/2023, bà N có đơn kháng cáo và ngày 09/11/2023, ông T1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 13/10/2023, Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12 ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ KNPT-VKS-DS đối với Bản án sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 12 theo hướng đề nghị hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do chưa làm rõ các thông tin về cư trú, khai tử đối với ông Trần Văn N1 để đưa thêm người thân thích của ông Trần Văn N1 tham gia tố tụng và việc tính án phí dân sự sơ thẩm là chưa đúng quy định tại Điều 24 và Điều 26 Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ý kiến trình bày của nguyên đơn như sau: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với kháng cáo của bà N, ông T1 và kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12 về việc hủy bản án sơ thẩm; đề nghị Tòa án giữa nguyên Bản án sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12. Ngày 23/8/2009, bà T ký Hợp đồng thỏa thuận mua bán nhà (Giấy tay) với bà Lê Thị C1 và bà Phan Thị N đối với nhà diện tích 77m² tọa lạc tại địa chỉ 5 T, tổ G, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 10/11/2009, bà T và ông N1 cùng ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Phòng C2, với bên bán là ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị Y để mua chung căn nhà diện tích 112m² và diện tích đất 155,2m² thuộc thửa đất 121-20; tờ bản đồ số 1 E tọa lạc tại địa chỉ 5 T, tổ G, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp mang tên bà Phan Thị G. Theo thỏa thuận, để bán được nhà bà N có trách nhiệm tách làm 02 giấy chứng nhận cho bà T và ông N1 nên bà T đã giữ lại số tiền còn lại là 50.000.000 đồng theo Giấy biên nhận ngày 03/9/2009 với điều kiện khi hoàn tất thủ tục tách sổ xong bà N giao sổ thì bà T giao số tiền còn lại này; hợp đồng dịch vụ hoàn toàn tách biệt với hợp đồng mua bán nên bà T đã giao bản chính giấy chứng nhận và các giấy tờ cho bà N để làm thủ tục tách thửa gồm: Bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp; Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 25129 ngày 10/9/2009 lập tại Phòng C2; Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 29/7/2009 mang tên Hồ Thị Y và Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 28/4/2010 mang tên Trần Văn N1. Do quá lâu không thấy bà N đưa sổ mới nên bà T yêu cầu bà N trả lại các giấy tờ nêu trên đã đưa cho bà N nhưng bà N không đưa trả lại mà nói rằng đã đưa cho người khác. Tại các Đơn khởi kiện ngày 11/10/2019, ngày 21/10/2019, ngày 16/7/2020; Đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 10/8/2020 và ý kiến trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà T yêu cầu Tòa án buộc bà N trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do U cấp; Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 25129 ngày 10/9/2009 lập tại Phòng C2; Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 29/7/2009 mang tên Hồ Thị Y và Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 28/4/2010 mang tên Trần Văn N1. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên buộc trả Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp là chưa đầy đủ; do vậy, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà N phải trả lại cho bà T các giấy tờ nêu trên.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn – ông Lê Trọng C: Ngày 07/6/2024, ông C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và xác định bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết hủy Bản án sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 12 vì đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung vụ kiện.

Ý kiến trình bày của ông Nguyễn Khánh T1: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T, đồng ý với kháng cáo của bà N và kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12, đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 12. Vì ngày 12/4/2010, ông N1 bán lại phần nhà đất của ông N1 cho bà Hồ Thị Thúy H1 công chứng tại Phòng C2 có sự đồng ý của bà T. Ngày 02/9/2014, ông T1 ký với bà N hợp đồng giấy tay để mua phần nhà đất của bà H1 (Cháu ruột của bà N) với giá 740.000.000 đồng, đã thanh toán 690.000.000 đồng còn lại 50.000.000 đồng khi ra công chứng sẽ trả dứt (Đến nay không công chứng); bà N chịu chi phí làm sổ 25.000.000 đồng khi nào xong sẽ trả cho ông T1, ông T1 được giữ sổ chính để đi làm sổ. Bà H1 có làm Giấy ủy quyền ngày 02/7/2019 cho ông T1 được toàn quyền quyết định. Năm 2019, ông T1 làm thủ tục tách sổ tại Ủy ban Nhân dân Quận U nhưng gặp một vài trục trặc chưa làm được thì bà T có đơn khiếu nại dẫn đến ông T1 không thể hoàn tất các thủ tục liên quan đến việc chuyển nhượng nhà đất đối với phần nhà đất ông N1 đã chuyển nhượng cho bà H1 và bà H1 đã ủy quyền cho ông T1. Chính bà T là người cản trở việc làm thủ tục tách sổ. Hiện nay ông T1 đang giữ các giấy tờ nhà đất mà bà T khởi kiện yêu cầu bà N trả cho bà T. Ông T1 chỉ đồng ý trả lại các giấy tờ theo yêu cầu của bà T nếu bà T cam kết có trách nhiệm cùng ông T1 làm thủ tục tách thửa theo quy định đối với phần diện tích nhà đất của ông N1. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy giấy chứng nhận là không đúng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn H, bà Hồ Thị Thúy H1, bà Hồ Thị Y, ông Trần Văn N1 và bà Lê Thị C1 đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:

+ Về tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quyền hạn, nhiệm vụ và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa.

+ Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bà N, ông T1 đã thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn và Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng quy định.

+ Về nội dung:

- Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút một phần kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12 về việc Tòa án Nhân dân Quận 12 chưa xác minh thu thập đầy đủ chứng cứ. Giữ nguyên nội dung kháng nghị về án phí sơ thẩm: Bản án số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 12 tuyên bà N và ông T1 phải chịu 750.000 đồng án phí sơ thẩm. Ngày 13/10/2023, Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12 có kháng nghị về phần án phí. Ngày 24/10/2023, Tòa án nhân dân Quận 12 có Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm theo đó tuyên án phí sơ thẩm là 300.000 đồng, bà N phải nộp. Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm tính án phí không đúng, Tòa án ban hành thông báo sửa chữa sau khi Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12 kháng nghị. Đây không thuộc trường hợp sửa chữa theo quy định của pháp luật vì đây là cách tính sai, không phải nhầm lẫn về số liệu, tính toán sai nên nội dung kháng nghị về án phí là có căn cứ.

Xét, bà N và ông T1 kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/09/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 12: Nguồn gốc nhà đất tại địa chỉ 5 T, tổ G, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Phan Thị G theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003. Năm 2006, bà G bán lại một phần diện tích nhà đất trên 02 lần cho ông Nguyễn Đại P, bà Nguyễn Thị B và cho ông Nguyễn Văn S. Phần diện tích còn lại sau khi bà G chết, ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị Y thừa kế. Năm 2009, ông H, bà Y chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn N1 và bà Nguyễn Thị Kim T. Năm 2010, ông N1 cùng vợ là bà Huỳnh Thị Mộng H2 (Có sự tham dự và đồng ý của bà T) chuyển nhượng một phần căn nhà và quyền sử dụng đất cho bà Hồ Thị Thúy H1. Như vậy, bà T là đồng chủ sở hữu nhà đất trên. Sau khi được cập nhật sang tên trên giấy chứng nhận, bà T và bà N có thỏa thuận bà T sẽ đưa giấy chứng nhận và các giấy tờ liên quan cho bà N để bà N thực hiện thủ tục tách thửa nhưng bà N chưa thực hiện được theo thỏa thuận trên. Theo lời trình bày của các đương sự thì hiện nay, ông T1 giữ giấy chứng nhận, các giấy tờ nộp thuế và các giấy tờ khác có liên quan. Nhận thấy, bà N và ông T1 không phải là chủ sở hữu hợp pháp của nhà đất trên nên không có quyền giữ giấy chứng nhận và giấy tờ khác có liên quan đến nhà đất theo quy định của pháp luật. Bà T là đồng chủ sở hữu đòi lại giấy chứng nhận và các giấy tờ khác mà bà T đã đưa cho bà N, hiện bà N đã đưa cho ông T1 là có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà N và ông T1 phải trả lại bản chính giấy chứng nhận cho bà T là có căn cứ nhưng chưa đầy đủ nên cần sửa án buộc bà N, ông T1 phải trả lại cho bà T Giấy chứng nhận bản chính, các giấy tờ đóng thuế và giấy tờ khác liên quan. Đồng thời, bản án sơ thẩm tuyên trường hợp bà N và ông T1 không thực hiện việc trả lại bản chính Giấy chứng nhận cho bà T thì hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số số 11660 do Ủy ban nhân dân Quận U cấp ngày 12/11/2003 cho bà Phan Thị G, cập nhật biến động cho ông N1 và bà T là không đúng theo quy định vì trong vụ án này các đương sự không đề nghị hủy giấy chứng nhận nên không có căn cứ để Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận. Trường hợp bà N và ông T1 không trả lại giấy chứng nhận bản chính thì bà T có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền xin cấp mới, lúc đó giấy chứng nhận bản chính đã cấp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thu hồi hoặc hủy bỏ theo thủ tục hành chính. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm: Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 về án phí; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Khánh T1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/09/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12 theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà N và ông T1 phải trả lại cho bà T bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 do Ủy ban nhân dân Quận U cấp ngày 12/11/2003 và các giấy tờ đóng thuế, giấy tờ liên quan khác hiện ông T1, bà N đang giữ. Trường hợp ông T1 không thực hiện trả lại Giấy chứng nhận bản chính cho bà T thì bà T được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền xin cấp mới Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Sửa án phí theo hướng bà N có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Quyền, thời hạn kháng cáo và thẩm quyền giải quyết: Bà N (Bị đơn) kháng cáo trong thời hạn và bà N được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm; Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với Bản án sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 12 là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự có mặt của các đương sự: Tòa án đã thực hiện tống đạt các quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn nhưng vắng mặt; do vậy, căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn.

[2] Về nội dung kháng cáo của bà Phan Thị N và ông Nguyễn Khánh T1 đối với bản án sơ thẩm.

[2.1] Về nguồn gốc nhà đất thuộc giấy chứng nhận mang tên ông N1 và bà T

Căn cứ trình bày của các đương sự và Cam kết 02 bên ngày 02/7/2019 giữa bà N và ông T1 là có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xác định: Nhà đất tọa lạc tại địa chỉ 5 T, tổ G, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được Ủy ban Nhân dân Quận U cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 cho bà Phan Thị G. Năm 2007, bà Phan Thị G chết. Ngày 31/7/2009, Ủy ban Nhân dân Quận U cập nhật tên chủ sở hữu cho bà Hồ Thị Y và ông Hồ Văn H (Theo Văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số 03085 lập ngày 07/7/2009). Ngày 19/11/2009, bà T và ông N1 được Văn phòng Đ cập nhật tên đồng sở hữu (Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số công chứng 25129 lập ngày 10/9/2009 tại Phòng C2 giữa ông H và bà Y với bà T và ông N1). Và hiện bà N và ông T1 đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp; Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 25129 ngày 10/9/2009 lập tại phòng C2; Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 29/7/2009 mang tên Hồ Thị Y và Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 28/4/2010 mang tên Trần Văn N1.

Xét, bà N và ông T1 căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 7016 ngày 12/4/2010 lập tại phòng C2 giữa vợ chồng ông Trần Văn N1 – bà Huỳnh Thị Mộng H2 với bà Hồ Thị Thúy H1; theo đó ông N1 và bà H2 chuyển nhượng một phần nhà đất thuộc quyền sở hữu của ông N1 và bà H2 cho bà H1; và Hợp đồng ủy quyền số 011075 ngày 02/7/2019 lập tại Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh, theo đó bà H1 ủy quyền cho ông Nguyễn Khánh T1 làm thủ tục tách thửa, xin cấp giấy chứng nhận vào năm 2014, bà N bán nhà đất cho ông T1 (Giấy tay) phần nhà đất bà H1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng với ông N1 bà H2 để từ chối không giao trả cho bà T bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 của Ủy ban Nhân dân Quận U cấp; Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 25129 ngày 10/9/2009 lập tại Phòng C2; Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 29/7/2009 mang tên Hồ Thị Y và Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 28/4/2010 mang tên Trần Văn N1 là không đúng.

Theo Điều 164 của Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”; Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N và ông T1 phải giao trả cho bà T bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 của Ủy ban Nhân dân Quận U cấp, cập nhật sang tên bà T và ông N1 ngày 10/11/2009 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của bà N và ông T1 yêu cầu hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ.

[2.2] Xét, bà T yêu cầu bà N có trách nhiệm trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp và các giấy tờ liên quan là Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 25129 ngày 10/9/2009 lập tại phòng C2; Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 29/7/2009 mang tên Hồ Thị Y và Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 28/4/2010 mang tên Trần Văn N1 mà bà N và ông T1 đang chiếm giữ trái pháp luật, cản trở bà T thực hiện quyền của chủ sở hữu là có căn cứ; tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên buộc ông T1 và bà N trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp, cập nhật biến động mang tên bà T và ông N1 ngày 10/11/02009 là chưa xem xét, giải quyết đầy đủ yêu cầu của người khởi kiện và chưa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu là bà T vì các giấy tờ nêu trên không thể tách rời hồ sơ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận khi tách thửa.

[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12

[3.1] Đối với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do chưa làm rõ các thông tin về cư trú, khai tử; từ đó xác định ông Trần Văn N1 còn sống hay đã chết để đưa thêm người thân thích của ông N1 tham gia tố tụng Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã rút kháng nghị đối với nội dung này nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xem xét nội dung kháng nghị nêu trên.

[3.2] Đối với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12 về việc tính án phí dân sự sơ thẩm; Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N và ông T1 phải chịu án phí 750.000 đồng chưa phù hợp với theo quy định tại Điều 24 và Điều 26 Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; về án phí sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà Phan Thị N phải chịu là có căn cứ. Ngày 13/10/2023, đã ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐKNPT-VKS-DS đến ngày 24/10/2023, Tòa án Nhân dân Quận 12 đã ban hành Quyết định số 73/2023/QĐ-SCBSBA sửa chữa, bổ sung bản án theo đó sửa chữa, bổ sung về án phí sơ thẩm 300.000 đồng bà N phải nộp sau khi có kháng nghị là không phù hợp.

[4] Xét, bà T khởi kiện đòi giấy chứng nhận do bà N và ông T1 đang chiếm giữ dẫn đến cản trở việc bà T thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà và quyền sử dụng đất trong việc làm các thủ tục cấp giấy chứng nhận mới nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại tuyên xử “Trường hợp bà N và ông T1 không thực hiện trả lại cho bà T bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp ngày 12/11/2003 thì hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 do Ủy ban Nhân dân Quận U ....”; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy nội dung tuyên hủy giấy chứng nhận nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là không đúng quy định của pháp luật, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị sửa bản án sơ thẩm đối với nội dung tuyên hủy giấy chứng nhận là có cơ sở.

Từ các nội dung như đã phân tích nêu trên, căn cứ quy định của pháp luật, xét đề nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N và ông T1 về việc hủy bản án sơ thẩm; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12 về án phí dân sự sơ thẩm; để đảm bảo cho việc thi hành án cần phải sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh do có sai sót và vi phạm quy định của pháp luật.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà N và ông T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 164 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị N.

2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Khánh T1.

3. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh về phần án phí dân sự sơ thẩm.

4. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 549/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể như sau:

4.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim T

Buộc bà Phan Thị N và ông Nguyễn Khánh T1 liên đới phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Kim T và ông Trần Văn N1 ngày 10/11/2009; Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 25129 ngày 10/9/2009 lập tại Phòng C2; Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 29/7/2009 mang tên Hồ Thị Y và Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 28/4/2010 mang tên Trần Văn N1.

4.2. Bà Nguyễn Thị Kim T quản lý Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp ngày 12/11/2003, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Kim T và ông Trần Văn N1 ngày 10/11/2009 và có trách nhiệm phối hợp với những người có quyền lợi liên quan để làm thủ tục cấp mới giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất khi có yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

4.3. Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị Kim T trả lại số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng cho bà Phan Thị N ngay sau khi nhận được bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên.

4.4. Trường hợp bà Phan Thị N và ông Nguyễn Khánh T1 không giao trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 11660 ngày 12/11/2003 do Ủy ban Nhân dân Quận U cấp; Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 25129 ngày 10/9/2009 lập tại Phòng C2; Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 29/7/2009 và Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 28/4/2010 thì bà Nguyễn Thị Kim T được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục sao trích lục Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 25129 ngày 10/9/2009 lập tại Phòng C2; Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 29/7/2009 mang tên Hồ Thị Y và Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất ngày 28/4/2010 mang tên Trần Văn N1 và làm thủ tục cấp mới giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đồng sở hữu với ông Trần Văn N1 và bà Nguyễn Thị Kim T theo quy định của pháp luật.

4.5. Về án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà Phan Thị N phải chịu.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T số tiền 1.200.000 (Một triệu hai trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0108235 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị N, ông Nguyễn Khánh T1 không phải chịu án phí phúc thẩm.

Trả lại cho bà Phan Thị N số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0031148 ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trả lại cho ông Nguyễn Khánh T1 số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/ 2023/0031153 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - TAND Quận 12- Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (T6/2024).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 541/2024/DS-PT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về đòi lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở

  • Số bản án: 541/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về đòi lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger