TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 541/2024/DS-ST
Ngày: 07/8/2024
V/v “Tranh chấp về hợp đồng dân
sự, tranh chấp thừa kế về tài sản và
yêu cầu công nhận quyền sử dụng
đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Phước Trinh.
- Bà Phạm Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Duy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và ngày 07 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 55/2020/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2020 về “Tranh chấp về hợp đồng dân sự; tranh chấp thừa kế về tài sản và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 364/2024 ngày 09/7/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh K, sinh năm: 1995 (có mặt);
Địa chỉ: G đường D- KP6, TT. D, tỉnh Bình Dương.
* Đại diện ủy quyền của ông K là: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1977 (có mặt).
Địa chỉ: Số A đường N, P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
ĐCLL: 496/74/2 đường D, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông K là:
Ông Vũ Xuân C, sinh năm 1960 (có mặt).
Địa chỉ: Số C đường T, phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1963 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Bé D, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số A, Tổ F, ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Bé L, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số A, Tổ F, ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số C, Tổ C, ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt);
- Ông Kiều Minh V, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ F, ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
Địa chỉ: C, tổ D, ấp H, xã H, huyện D, tỉnh Bình Dương.
* Người đại diện ủy quyền của các bị đơn.
- Ông Trịnh Đình T1, sinh năm 1992 (có mặt).
- Ông Nguyễn Minh L1, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ: Số A N, phường H, Thành phố T, TP ..
Địa chỉ: Số A, ấp L, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1962 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Cùng ngụ địa chỉ: Số F khu phố F, thị trấn D, tỉnh Bình Dương.
*Người đại diện ủy quyền của Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Tuấn A: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1977 (có mặt).
Địa chỉ: Số A N, phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, TP . (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, TP ..
7. Ủy ban nhân dân huyện C, TP ..
*Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thanh P, chức vụ: Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C.
Địa chỉ: khu phố G, thị trấn C, huyện C, TP ..
2
*Người làm chứng:
- Ông Phạm Văn T2, sinh năm: 1959 (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Lê Thị H1, sinh năm:1959 (có đơn xin vắng mặt).
Cùng ngụ địa chỉ: Số H, đường P, tổ E, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Anh K và người đại diện theo ủy quyền của ông K là ông Nguyễn Thanh B thống nhất trình bày:
Phần đất diện tích 2.815m², thuộc một phần Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 15, xã P, huyện C, Tp . (nay viết tắt là diện tích đất 2.815m²), nằm trong một phần diện tích đất 15.212m² của cụ Phan Văn S (chết năm 1924) để lại, khi chết cụ S không để lại di chúc hay giấy tờ phân chia đất đai, khi chết cụ S chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cụ Phạm Văn S1, sinh được 02 người là: Phan Văn L2 (chết năm 1947) và Phan Văn L3 (chết năm 1947). Sau khi cụ S1 chết, toàn bộ diện tích đất tranh chấp được giao cho Phan Văn L3 và Phan Văn L2 trực tiếp quản lý.
Ông Phan Văn L3 có người con là: Bà Phan Thị Đ (chết năm 2010) và bà Phan Thị T3 (chết năm 2002). Bà Phan Thị Đ có 01 người con là ông Nguyễn Văn K1 (chết năm 2013). Ông K1 có vợ tên Trần Thị H, có 02 người con là Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Anh K. Bà Phan Thị T3 có chồng tên Phan Văn M (chết năm 1968), có 04 con chung là: Nguyễn Thị G, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Bé D, Nguyễn Thị Bé L. Ngoài ra, bà T3 có 01 con riêng tên Kiều Minh V.
Ông Phan Văn L2 có 01 người con là: Phan Văn M1 (chết năm 1986). Ông L2, ông L3, bà Đ, bà T3, ông M1 chết không để lại di chúc hay giấy tờ phân chia đất đai gì khác. Ông Phan Văn M1 có 04 người con tên Phan Văn T4, Phan Văn P1, Phan Văn X, Phan Văn C1.
Phần đất diện tích 2.815,2m² sau khi ông L2 và ông L3 chết thì giao lại cho 03 người là bà T3, bà Đ và ông M1 quản lý, sử dụng. Khoảng năm 1965, tất cả bỏ đi khỏi địa phương do chiến tranh. Lúc này, bà T3 và bà Đ bỏ lên huyện D sinh sống. Ông M1 đi đâu không rõ. Sau năm 1975, ông M1 quay trở lại khai hoang, sử dụng toàn bộ diện tích đất 2.815,2m². Đến năm 1985, ông M1 cho con trai là ông Phan Văn T4 sử dụng.
Đến năm 1986 thì bà Đ và bà T3 về yêu cầu ông T4 lại trả lại đất thì ông T4 đồng ý chia lại cho bà Đ và bà T3 40m đất bề ngang, chiều dài hết đất với điều kiện bà T3 và bà Đ phải trả lại cho ông T4 số tiền 20.000.000 đồng tiền cải tạo đất. Nhưng bà T3 và bà Đ không có tiền nên việc chia đất không thành. Bà T3 và bà Đ khiếu nại lên UBND huyện C yêu cầu ông T4 trả lại đất cho bà T3 và bà Đ. Khi hai bà còn sống thì hai bà cùng đi nhưng khi bà T3 chết thì các con của bà T3 ủy quyền lại cho ông Kiều Minh V cùng với bà Đ đi đòi đất.
Đến năm 2003, Chủ tịch UBND huyện C có ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 5170/QĐ-UBND ngày 22/12/2003 về việc bác nội dung khiếu nại của ông V, công nhận đất cho ông T4.
Đến năm 2004, Chủ tịch UBND huyện C tiếp tục ban hành Quyết định số 1255/QĐ-UBND ngày 01/3/2004, công nhận Quyết định số 5170, bác nội dung khiếu nại của ông Kiều Minh V.
Đến năm 2007, Chủ tịch UBND huyện C ban hành Quyết định số 85/QĐ-UBND ngày 08/01/2007, Quyết định tiếp tục bác đơn khiếu nại của ông V, công nhận sự tự nguyện của ông T4, tự nguyện giao lại cho Phan Thị Đ phần đất chiều ngang 40m, chiều dài hết đất.
Năm 2008, các con bà T3 cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Văn K1 đi tranh chấp đất với ông T4. Nội dung ủy quyền: Ủy toàn quyền cho ông K1 được đi giải quyết tranh chấp đất đối với diện tích đất 3.850,2m² tọa lạc ấp P, xã P, huyện C. Giấy ủy quyền này được UBND xã Đ, huyện D chứng thực.
Sau đó chính ông Kiều Minh V đã ký cam kết với ông K1 về thỏa thuận chia quyền và lợi ích được hưởng khi ông K1 đứng ra giải quyết tranh chấp với ông Phan Văn T4, cụ thể như sau:
- Ông Kiểu Minh V1: 10% giá trị diện tích đất thực nhận và 8.000.000₫.
- Bà Nguyễn Thị G: 5% giá trị diện tích đất thực nhận.
- Ông Nguyễn Văn T: 5% giá trị diện tích đất thực nhận.
- Bà Nguyễn Thị Bé D: 5% giá trị diện tích đất thực nhận.
- Bà Nguyễn Thị Bé L: 5% giá trị diện tích đất thực nhận.
Có giấy ủy quyền và giấy cam kết này trong tay, ông K1 đã trực tiếp thỏa thuận với vợ chồng ông Phan Văn T4 chia cho ông K1 phần đất chiều ngang 40m, chiều dài hết đất và tiền mặt, cùng thống nhất chấm dứt tranh chấp. Sau đó, ông K1 được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00341/11 ngày 09/12/2009, ông Phan Văn T4 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00006/11 ngày 07/01/2009. Như vậy, việc thỏa thuận phân chia di sản tranh chấp giữa ông T4 và ông K1 và anh chị ông T đã được giải quyết bây giờ chỉ còn lại nghĩa vụ của ông K1 với anh chị em của ông Kiều Minh V theo giấy cam kết ông V đã ký kết.
Khi ông K1 chưa kịp thực hiện phân chia quyền lợi công việc ủy quyền với anh em ông T, ông V thì anh chị em ông T tiếp tục khiếu nại tại UBND huyện C. Sau đó, UBND huyện C ban hành quyết định thu hồi hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00341/11 ngày 09/12/2009 đứng tên ông Nguyễn Văn K1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00006/11 ngày 07/01/2009 cấp cho ông Phan Văn T4.
Ngày 20/01/2017, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau đó bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.
Ngày 04/7/2017 đến ngày 13/7/2017, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân phố Hồ Chí minh xét xử tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án huyện Củ Chi và chuyển hồ sơ về cho tòa án nhân dân huyện Củ Chi lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 24/4/2018, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ông Nguyễn Văn T là đại diện ủy quyền của các anh, chị em ông T đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện với ông Phan Văn T4. Do đó, Tòa án đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ngày 02/5/2018.
Sau khi có Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn K1 liên hệ với UBND huyện C để làm thủ tục xin cấp GCN QSDĐ diện tích đất mà ông K1 đã được ông Phan Văn T4 giao trước đây nhưng anh chị em ông Nguyễn Văn T tranh chấp nên không được cấp Giấy chứng nhận. Do đó, ông Nguyễn Anh K là người thừa kế của ông K1 khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Công nhận giấy ủy quyền của anh, chị em ông Nguyễn Văn T cho ông K1 là hợp lệ;
- Công nhận sự thỏa thuận phân chia di sản giữa ông Nguyễn Văn K1 với ông Phan Văn T4 vì không vi phạm pháp luật và trái đạo đức xã hội;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, phân chia tài sản được hưởng sau thỏa thuận chia di sản thừa kế giữa những người thừa kế của ông Nguyễn Văn K1 với anh, chị em ông T theo hướng mỗi bên được nhận 50% diện tích đất thực nhận.
- Anh, chị em ông T được nhận 200.000.000đ (hai trăm triệu) đồng là một nửa số tiền mà ông K1 đã nhận đền bù từ bồi thường thu hồi đất trước đây.
Ngày 07/6/2022, ông Nguyễn Anh K có đơn yêu cầu Tòa án thay đổi nội dung khởi kiện như sau:
- Thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện từ yêu cầu chia tài sản thừa kế sang thành yêu cầu chia tài sản sau khi thực hiện xong công việc ủy quyền.
- Thay đổi tư cách người tham gia tố tụng của ông Nguyễn Tuấn A từ người có quyền và nghĩa vụ liên quan sang thành đồng nguyên đơn khởi kiện.
- Chấp nhận yêu cầu chia tài sản khi thực hiện công việc ủy quyền, công nhận phần đất diện tích 2.815m² là phần tài sản mà phía nguyên đơn được nhận sau khi thực hiện công việc ủy quyền. Chia đôi phần diện tích đất này thành hai phần bằng nhau, theo đó các đồng bị đơn là anh, chị em ông Nguyễn Văn T được sử dụng 50% diện tích tương đương 1.407,5m². Phần diện tích còn lại là 1.407,5m² được giao cho đồng nguyên đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị H được sử dụng.
Ngày 18/7/2022, nguyên đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu phản tố của bị đơn là không còn thời hiệu khởi kiện.
*Tại phiên toà:
- Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện diện tích 143.5 m² theo bản đồ hiện trạng vị trí đất do công ty TNHH MTV T8 lập đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 03 tháng 5 năm 2022 và yêu cầu chia đôi diện tích 2671,5m² thành hai phần, 01 phần gia đình ông K và 01 phần cho gia đình ông T;
- Gia đình ông K tự nguyện hoàn lại cho gia đình ông T số tiền bồi thường đất mà ông K1 đã nhận 350.553.600đồng/2=175.266.800đồng, sau khi bản án có hiệu lực.
- Chi phí tố tụng gồm: chi phí đo vẽ hiện trạng vị trí đất theo hoá đơn giá trị gia tăng ngày 05 tháng 5 năm 2022 là 9.061.562đồng và chi phí thẩm định theo hoá đơn giá trị gia tăng ngày 15 tháng 02 năm 2023 là 41.225.769đồng. Tổng là 50.287.331đồng (làm tròn là 50.000.000đồng). Đề nghị phía bị đơn hoàn lại cho nguyên đơn số tiền 25.000.000đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị G, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Bé D, Nguyễn Thị Bé L do Trịnh Đình T1 và ông Nguyễn Minh L1 là người đại diện theo ủy quyền cùng thống nhất trình bày.
Cụ Phan Văn L2 là cha của bà Phan Thị T3 (Phan Thị D1) và bà Phan Thị Đ (mẹ của ông Nguyễn Văn K1). Bà Phan Thị T3 có chồng tên Phan Văn M (chết năm 1968), có 04 con chung là: Nguyễn Thị G, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Bé D, Nguyễn Thị Bé L. Ngoài ra, bà T3 có 01 con riêng tên Kiều Minh V.
Phần đất đang tranh chấp, nguyên trước đây ông Phan Văn L2 đã chia cho bà Phan Thị T3 sử dụng canh tác sinh sống và làm nhà ở. Phần đất phía đông giáp ông Trần Văn H2, phía tây giáp bà Tám H3, phía nam giáp ông Bảy S2, phía bắc giáp ông bà H2 và ông S3 (Ban lãnh đạo ấp P3 đã có xác nhận) phần đất trên là của bà Phan Thị T3 là đúng sự thật và có nhiều người làm chứng vẫn còn sống (có văn bản xác nhận của chính quyền địa phương và những người giáp ranh làm chứng xác nhận gửi kèm). Không liên quan gì đến bà Phan Thị Đ mẹ của ông Nguyễn Văn K1 bà nội của ông Nguyễn Anh K.
Năm 1965-1967, chiến tranh nổ ra bà Phan Thị T3 đi theo cách mạng. Sau ngày giải phóng 1975, bà T3 và các con trở về quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp. Khoảng năm 1980, ông Phạm Văn T2 có xin bà Phan Thị T3 cất 01 căn chòi để ở tạm, sau đó ông T2 có ý định không trả, bà T3 khiếu nại đến chính quyền địa phương đến giải quyết thì ông T2 đồng ý trả lại đất cho bà T3 và xin ở nhờ trong thời gian tìm nơi ở mới (có lập thành văn bản).
Sau đó chính quyền địa phương đã yêu cầu bà T3 phải đóng thuế đất vì là người có công nên được miễn một thời gian đến năm 1992 mới phải đóng thuế. Bà T3 thực hiện nghĩa vụ đóng thuế từ năm 1992 đến năm 2001 (có biên lai kèm theo). Vì không ở thường xuyên, hơn nữa ông T2 lợi dụng là người họ hàng bà con với bà T3, ông T2 đã không thực hiện lời hứa với chính quyền địa phương giao trả đất lại cho bà T3.
Đến ngày 13/8/1995, bà T3 và ông Phan Văn T4 làm giấy thỏa thuận. Bà T3 cho ông Phan Văn T4 phần diện tích đất ngang 30 mét chiều dài hết ranh đất, có ban lãnh đạo ấp gồm: ông Hà Văn Đ1 Bí thư chi bộ ấp P, bà Trần Thị H4 cán bộ hưu trí ông Nguyễn Văn B1 và ông Lê Văn T5, ông Út P2 nguyên cán bộ thuế làm thư ký. Những người này tham gia giải quyết và làm chứng tại buổi làm việc ông T4 đồng ý tự nguyện ký tên vào Biên bản nhận của bà Phan Thị T3 (Dưa) phần đất ngang 30 mét dài hết ranh đất có diện tích 1000m².
Đến ngày 28/5/1999, UBND xã P có buổi làm việc giải quyết đền bù cây điều. Phần ý kiến của bà T3 sau khi ông T4 giao lại phần đất, bà T3 sẽ hỗ trợ ông T4 2.000.000 (hai triệu) đồng, phần cây điều và cây bạch đàn ông Trai tự của bán, số tiền 2.000.000đồng để hỗ trợ dọn dẹp nhưng ông T4 không đồng ý mà đòi 20.000.000 đồng (hai mươi triệu) đồng. Do không thỏa thuận được nên thống nhất chuyển hồ sơ lên cấp trên giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/6/1999, UBND xã P lập tờ trình số: 28/TT-UB “Về việc giải quyết tranh chấp điều và bạch đàn giữa bà T3 và ông T4” nội dung tờ trình được các ban ngành đoàn thể chính quyền địa phương xác định nguồn gốc đất nói trên là của bà T3 đã canh tác và sử dụng và làm nhà ở từ trước những năm 1960.
Đến ngày 18/02/2002, bà T3 lâm bệnh qua đời. Các con của bà T3 đã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn K1 trông coi và sử dụng phần đất còn lại của bà T3. Nhưng ông K1 và ông T4 thống nhất với nhau phân chia chiếm đoạt phần đất của bà T3, cùng nhau đi kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Em ông Phan Văn T4 là Phan Văn X là cán bộ địa chính xã M đã hợp thức hồ sơ cho hai ông được cấp hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00341/11, ngày 09/12/2009 cho ông K1 (sau khi đã nhận đền bù giải phóng mặt bằng một phần đất thu hồi). Với ông T4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ: H00006/11 ngày 07/01/2009 (sau khi đã nhận bồi thường giải phóng mặt bằng một phần đất đã thu hồi).
Các con bà T3 tiếp tục khiếu nại. Ngày 02/7/2012, UBND huyện C ban hành Quyết định số: 5615/QĐ-UBND thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H00341/11 ngày 09/12/2009 đã cấp cho ông Nguyễn Văn K1 vì không đúng thủ tục và sai đối tượng. Ngày 30/7/2012, UBND huyện C ban hành Quyết định số 6578/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H0006/11 ngày 07/01/2009 đã cấp cho ông Phan Văn T4 vì sai trình tự, sai quy định và sai đối tượng.
Ông Phan Văn T4 thừa nhận Quyết định số: 6578/ QĐ-UBND nên không có thắc mắc hay khiếu nại gì nhưng vẫn chưa trả lại đất.
Ông K1 không đồng ý khiếu nại Quyết định số: 5615/QĐ-UBND. Ngày 25/12/2012, Thanh tra huyện C có Thông Báo số; 381/BC-TTH kết quả thẩm tra xác minh, kết luận và kiến nghị UBND huyện C ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại đối với ông Nguyễn Văn K1: là công nhận Quyết định số 5615/QĐ-UBND ngày 02/7/2012 là đúng quy định của pháp luật và đúng bản chất của sự việc; Bác đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn K1.
Tại Công văn số: 6822/UBND-TTH, ngày 18/9/2014 của UBND huyện C nêu rõ “căn cứ Điều 28 Luật khiếu nại năm 2011quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Quyết định 5615/QĐ-UBND ngày 02/2/2012 của UBND huyện C về việc thu hồi huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00341/11 ngày 09/12/2009 đã cấp cho ông Nguyễn Văn K1, đã hết thời hiệu khiếu nại”.
Trong tất cả các văn bản từ cấp cơ sở ấp, xã, chính quyền địa phương, ban ngành đoàn thể, các cơ quan chuyên môn, tham mưu giúp việc, người làm chứng, trong đó có bản thân ông K1 (qua Giấy ủy quyền của các con bà T3), đều khẳng định phần đất 15.212m², thửa số 5, 61, Tờ bản đồ số 11 (theo bản đồ 02/CT-UB) là của bà Phan Thị T3 (Phan Thị D1). Trong đó có các quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Gia đình ông Nguyễn Văn K1 và những người thừa kế của ông K1 là bà Trần Thị H vợ ông K1, cùng hai con ông K1 là Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Anh K không có liên quan gì đến phần đất của bà T3. ông Nguyễn Anh K là người thừa kế của ông Nguyễn Văn K1 - người nhận bồi thường từ quyền sử dụng đất của ông K1 không đúng bản chất của sự việc luật pháp phải trả lại số tiền đã nhận
*Do đó, bị đơn có yêu cầu phản tố:
- Công nhận quyền sử dụng đất 2.815m² là quyền sử dụng đất của bà Phan Thị T3 và nay là di sản của bà Phan Thị T3 để lại cho các con là đồng thừa kế của bà T3 gồm ông Nguyễn Văn T, ông Kiều Minh V, bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị Bé D và bà Nguyễn Thị Bé L.
- Yêu cầu ông Nguyễn Anh K là người thừa kế của ông Nguyễn Văn K1 người đã nhận tiền bồi thường từ quyền sử dụng đất của bà T3 không đúng bản chất của sự việc và trái pháp luật phải trả lại cho bị đơn số tiền 350.553.600 đồng (ba trăm năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm đồng).
*Tại phiên toà:
- Bị đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 143,5m².
- Bị đơn đề nghị toà án công nhận phần đất diện tích 2671,5m² theo bản đồ hiện trạng vị trí đất do công ty TNHH MTV T8 lập đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 03 tháng 5 năm 2022;
- Bị đơn yêu cầu ông K hoàn trả lại số tiền 350.553.600 đồng (ba trăm năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm đồng).
- Chi phí tố tụng gồm: chi phí đo vẽ hiện trạng vị trí đất theo hoá đơn giá trị gia tăng ngày 05 tháng 5 năm 2022 là 9.061.562đồng và chi phí thẩm định theo hoá đơn giá trị gia tăng ngày 15 tháng 02 năm 2023 là 41.225.769đồng. Tổng là 50.287.331đồng (làm tròn là 50.000.000đồng). Bị đơn đề nghị phía bị đơn hoàn lại cho nguyên đơn số tiền 25.000.000đồng. Bị đơn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại phiên Toà bị đơn xin rút đơn khiếu nại của về việc Toà án ban hành thông báo thụ lý bổ sung yêu cầu độc lập của ông T4 và bà H1 trong giai đoạn tạm ngừng phiên toà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H, anh Nguyễn Tuấn A có ông Nguyễn Thanh B là đại diện uỷ quyền cùng thống nhất ý kiến của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C trình bày: Ủy ban nhân dân huyện C đã cung cấp tài liệu có liên quan theo yêu cầu của Toà án. Đề nghị Toà án Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Phan Văn T4 và bà Lê Thị H1 trình bày tại bản tự khai ngày 18/12/2023:
Nguyên toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông C2 nội tôi là cụ Phan Văn S tạo lập từ trước năm 1945, ông Phan Văn S có 2 người con trai là Phan Văn L2 và Phan Văn L3 ( ông L3 là ông N tôi ). Ông C2 tôi là Cụ Phan Văn S chết từ năm 1924. Khi ông Phan Van S4 chết, không để lại di chúc thì toàn bộ diện tích đất đó giao cho hai người con là ông Phan Văn L2 và ông Phan Văn L3 trông coi. Ông L2 sinh được hai người con gái là à Phan Thị T3 và Phan Thị Đ, còn ông nội tôi thì sinh được cha tôi là Phan Văn M1. Năm 1947 cả ông L2 và ông L3 đều chết và không để lại di chúc, mảnh đất này được bà Phan Thị Đ là mẹ của ông Nguyễn Văn K1 cùng bà Phan Thị T3 là mẹ của anh chị em ông Nguyễn Văn T quản lý. Khi chiến tranh chống Mỹ cứu nước diễn ra, từ năm 1965, bà Phan Thị Đ và bà Phan Thị T3 đã bỏ hoang toàn bộ diện tích đất trên để tản cư sang huyện D định cư và sống ổn định tại đó.
Năm 1975, sau khi chiến tranh kết thúc, cha tôi là Phan Văn M1 đã quay lại khai hoang, quản lý và canh tác toàn bộ diện tích đất nói trên cho đến năm 1985; từ năm 1985, cha tôi giao cho tôi quản lý và canh tác liên tục đến nay, trong suốt thời gian cha tôi canh tác, gia đình các bà T3 và bà Đ không về thăm quê lần nào và cũng không có ai tranh chấp với cha tôi, năm 1986 cha tôi chết. Kể từ năm 1985 khi tôi canh tác phần đất trên, dù đến năm 1989 có về thăm quê vài lần nhưng cả bà T3 và bà Đ đều nói với tôi là cháu cứ sử dụng đất mà làm ăn, các cô không ai tranh chấp đâu. Cho đến khi Nhà nước quy hoạch phóng con đường tỉnh lộ 6 ngang qua khu đất trên thì bà T3 và bà Đ có về yêu cầu tôi giao lại đất cho hai bà, giữa tôi và các bà có thoả thuận tôi sẽ cắt 40m bề ngang, chiều dài hết đất cho hai bà nhưng hai bà phải trả lại cho tôi 20.000.000đ là tiền mà tôi bỏ bao công sức bồi lấp hố bom, cải tạo đất và trồng cây cối lâu năm, việc thương lượng không thành. Do đó gia đình hai bà khiếu nại lên UBND huyện nhưng đều bị bác đơn khiếu nại. (Sau này ông Kiều Minh V2 được ủy quyền đi khiếu nại cũng bị bác đơn khiếu nại nhiều lần vì không có căn cứ).
Trong quá trình giải quyết vụ việc, bà T3 và bà Đ lần lượt qua đời. các con của bà Đ gồm: Kiều Minh V; Nguyễn Thị Bé D; Nguyễn Văn T; Nguyễn Thị G và Nguyễn Thị Bé L có lập giấy uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn K1 được sự chứng thực của UBND xã Đ do Chủ Tịch xã là Hoàng Minh Đ2 ký ngày 30/5/2008 để trực tiếp giải quyết việc tranh chấp với tôi. Theo giấy uỷ quyền thì ông Nguyễn Văn K1 được toàn quyền giải quyết tranh chấp đất nói trên và anh, chị, em ông T cam kết không có ý kiến thắc mắc gì đến mảnh đất tranh chấp nữa. Cũng trong ngày 30/5/2008, ông Nguyễn Văn K1 đã viết giấy cam kết thoả thuận với ông Kiều Minh V là nếu ông K1 lấy được quyền đăng ký chứng nhận QSDĐ thì ông K1 cùng vợ sẽ chia cho ông Kiều Minh V và các anh, chị, em của ông V quy thành tiền như sau:
- Ông Kiều Minh V được chia 10% giá trị của diện tích đất đòi được cộng với 8.000.000đ tiền mặt (tám triệu).
Sau khi ông K1 được sự uỷ quyền của anh, chị, em ông Nguyễn Văn T đứng ra giải quyết tranh chấp đất với tôi, giữa tôi và ông Nguyễn Văn K1 đã đồng ý thoả thuận là tôi giao lại cho ông K1 40m bề ngang của mảnh đất, đồng thời tôi giao thêm cho ông K1 số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu đồng) thì sẽ chấm dứt tranh chấp giữa các bên, Sau khi ông K1 được sự uỷ quyền của anh, chị, em ông T thì vợ mọi chuyện còn lại thì vợ chồng ông K1 sẽ tự giải quyết với anh, chị, em ông T. Tôi và vợ tôi đã giao đủ số tiền 50.000. 000đồng cho ông K1. Sau đó, ông K1 đi làm thủ tục đăng ký và được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ vào năm 2009. Sau khi ông K1 được cấp GCNQSDĐ thì tôi cũng đi làm thủ tục đăng ký và cũng được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ sau ông K1 một thời gian.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì việc tranh chấp QSDĐ giữa tôi với tất cả các bên là con của bà Đ và bà T3 đã được giải quyết xong kể từ khi ông K1 được anh, chị, em ông Thành ủy q và ông K1 đã thoả thuận xong với vợ chồng tôi, mọi tranh chấp đã kết thúc khi vợ chồng tôi thực hiện xong việc giao 50.000.000đồng cho vợ chồng ông K1 và việc cả tôi cùng ông K1 được cấp GCNQSDĐ là đúng theo quy định pháp luật. Việc ông K1 có thực hiện cam kết theo thoả thuận với anh, chị, em ông T hay không thì tôi không được biết và cũng không liên quan đến vợ, chồng tôi nữa.
Việc ông T phủ nhận, không công nhận sự thoả thuận giữa người được anh, chị, em của ông uỷ quyền với tôi và nói tôi giả mạo giấy tờ và lợi dụng có người em làm ở UBND xã để được cấp GCN QSDĐ là không có căn cứ.
Hiện nay ông Nguyễn Văn K1 đã chết, việc tranh chấp giữa ông Nguyễn Anh K (là con trai ông K1) với anh, chị em ông Nguyễn Văn T là tranh chấp tài sản có được sau khi thực hiện công việc ủy quyền giữa anh, chị, em ông Nguyễn Văn T với người thừa kế của ông Nguyễn Văn K1. Không có liên quan gì đến tôi nên tôi đề nghị Quy Tòa giải quyết theo quy định pháp luật.
Do tôi hiện nay tuổi cao, sức khỏe giảm sút nên tôi đề nghị Tòa án các cấp xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ kiện. Tôi cam kết không có khiếu nại, thắc mắc gì về sau.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:
- Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: Vụ án được t}hụ lý đúng thẩm quyền; việc Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định; thời hạn gửi Thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát cùng cấp đúng quy định; thời hạn gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ đúng quy định, tuy nhiên vi phạm về thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thời gian, địa điểm được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, việc tham gia hỏi tại phiên tòa đúng quy định. Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về nội dung:
Căn cứ khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 244 BLTTDS 2015; Điều 612, 613, 650, 651, 652, 660 BLDS 2015; Điều 129 Luật Đất đai 2003:
Căn cứ khoản 3, 5, 9 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 623, 688 Bộ luật dân sự 2015, Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông K, ông A, bà H được nhận phần đất diện tích 1.335,75m² thuộc một phần thửa 17-1 (thuộc khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất được công ty TNHH MTV T8 lập); ông T, bà G, bà D, bà L, ông V là các con của bà T3 được nhận phần đất diện tích 1.335,75m² thuộc một phần thửa 17-1 (thuộc khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất được công ty TNHH MTV T8 lập);
- Nguyên đơn phải hoàn trả cho các đồng bị đơn số tiền bồi thường mà ông K1 đã nhận là 175.276.800 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn về việc công nhận quyền sử dụng đất diện tích 143.5m² thuộc phần đường (a).
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận quyền sử dụng đất diện tích 2671.5m² thuộc một phần thửa 17 là quyền sử dụng đất của bà Phan Thị T3 và nay là di sản của bà Phan Thị T3 để lại cho các con là đồng thừa kế của bà T3.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải trả lại toàn bộ số tiền bồi thường 350.553.600 đồng.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T2 và bà Lê Thị H1 đề nghị được công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1368,3m² thuộc các thửa 17-2, 19-2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ vào yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là: Tranh chấp về hợp đồng dân sự; thừa kế về tài sản; công nhận quyền sử dụng đất, quy định tại Khoản 2, 3, 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đất tranh chấp tọa lạc xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm c Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C, Ủy ban nhân dân xã P, huyện C có đề nghị xét xử vắng mặt. Người làm chứng: Ông Phan Văn T4 và bà Lê Thị H1 có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn gồm: bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị Bé D, bà Nguyễn Thị Bé L, Kiều Minh V vắng mặt, có mặt ông Trịnh Đình T1 và ông Nguyễn Minh L1 là người đại diện theo ủy quyền; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị H, ông Nguyễn Tuấn A vắng mặt, có mặt ông Nguyễn Thanh B là người đại diện theo uỷ quyền. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2.2] Phần đất 15.212m², thuộc Thửa đất số 5, 61, Tờ bản đồ số 11, xã P, huyện C nguồn gốc là của cụ Phạm Văn S1, cụ S1 chết năm 1924, cụ S1 có hai người con là cụ Phan Văn L2 (chết năm 1947) và Phan Văn L3 (chết năm 1947), hiện nay nguyên đơn ông Nguyễn Anh K đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với di sản của cụ S1 là phần đất nêu trên, là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2015.
[2.3] Ngày 23 tháng 02 năm 2024, ông Phan Văn T4 và bà Lê Thị H1 có đơn yêu cầu độc lập đề nghị Toà án công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1368.3 m², thuộc thửa đất số 17-1, 19-1, tờ bản đồ số 15, bộ địa chính xã P, huyện C. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T4 và bà H1 có đơn xin rút yêu cầu độc lập. Xét thấy đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu độc lập của ông T4 và bà H1 theo quy định tại Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.4] Tại phiên Toà: nguyên đơn và bị đơn cùng xin rút: phần đất diện tích 143.5 m² theo bản đồ hiện trạng vị trí đất do công ty TNHH MTV T8 lập đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 03 tháng 5 năm 2022.
*Hội đồng xét xử xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố của nguyên đơn và bị đơn là tự nguyện, không trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu đã rút của nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn, Hội đồng xét xử, xét thấy:
[3.1] Quá trình đăng ký kê khai, quản lý sử dụng đất, hoà giải, tranh chấp và kết quả giải quyết tranh chấp phần đất 15.212m², thuộc Thửa đất số 5, 61, Tờ bản đồ số 11, xã P:
Nguồn gốc đất: Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất này là của cụ Phan Văn S, cụ S có hai người con là cụ Phan Văn L2 và Phan Văn L3. Cụ L2 và cụ L3 đã chết, khi chết không để lại di chúc, việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L2 và cụ L3 là đã hết thời hiệu (theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của nguyên đơn) nên phần đất này được xác định là tài sản chung của những người thừa kế của cụ L2 và cụ L3 là bà Phan Thị T3, bà Phan Thị Đ và ông Phan Văn M1.
Đăng ký kê khai: Theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB cũng như tài liệu bản đồ kỹ thuật số (sổ dã ngoại và thống kê diện tích) lưu giữ tại UBND xã P, huyện C phần đất này do ông Phan Văn T4 đăng ký kê khai.
Quá trình quản lý, sử dụng, tranh chấp: Từ năm 1965 – 1966 phần đất này do bà Phan Thị Đ sử dụng, sau đó bà Đ và bà T3 tản cư về D, tỉnh Sông Bé (nay là tỉnh Bình Dương) sinh sống cho đến nay, còn đất thì bỏ hoang không ai sử dụng cho đến khi giải phóng 1975, ông Phan Văn M1 cho con trai là ông Phan Văn T4 quản lý, sử dụng. Đến năm 1995, bà Phan Thị T3 quay trở về tranh chấp với ông T4, hai bên có thực hiện thoả thuận nhưng không thành. Năm 1999, bà Đ có đến phần đất xây dựng một căn nhà để ở, sau đó cùng bà T3 và bà Đ cùng tiếp tục tranh chấp với ông T4. Khi bà T3 và bà Đ chết thì các con của bà T3 và bà Đ tiếp tục tranh chấp với ông T4, việc tranh chấp đã được giải quyết nhiều lần và thống nhất được như sau: Ông Nguyễn Văn K1 (đại diện những người thừa kế của cụ Phan Văn L3) được chia phần đất diện tích 3.323,6m², thuộc Thửa đất số 626, Tờ bản đồ số 15, xã P và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00341/11 ngày 09/12/2009; Ông Phan Văn T4 (đại diện cho những người thừa kế của cụ Phan Văn L2) được chia phần đất diện tích đất 10.692,3m², thuộc Thửa đất số 17, Tờ bản đồ số 15, xã P và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00006/11 ngày 07/01/2009. Tuy nhiên, vì những người thừa kế của cụ Phan Thị T3 và Phan Thị Đ tranh chấp nên Ủy ban nhân dân huyện C hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T4 (Quyết định số 6578/QĐ-UBND ngày 30/7/2012) và ông K1 (Quyết định số 5615/QĐ-UBND ngày 02/7/2012).
[3.2] Hiện nay, mặc dù UBND huyện C đã thu hồi hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K1 và ông T4, tuy nhiên những người thừa kế của cụ Phan Văn L3, cũng như ông Phan Văn T4 là đại diện của những người thừa kế của cụ Phan Văn L2, Phan Văn M1 (con trai ông L2), đồng thời cũng là người trực tiếp đăng ký kê khai đất, đều thống nhất xác định phân chia di sản của cụ Phan Văn S như sau: Cụ Phan Văn L2 10.692,3m² do ông T4 đang trực tiếp quản lý, sử dụng; cụ Phan Văn L3 được chia 3.323,6m², hiện nay những người thừa kế thứ 2 và thứ 3 của cụ L3 đang tranh chấp, tuy nhiên những người này cũng xác định chỉ tranh chấp trong phạm vi diện tích đất của cụ L3 được chia, xác định không tranh chấp, không liên quan đến phần đất của cụ L2, cụ M1 được chia. Do đó, Hội đồng xét xử không đưa những người thừa kế của cụ Phan Văn L2 và bà D2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp phần đất diện tích 3.323,6m² mà những người thừa kế của cụ Phan Văn L3 đang tranh chấp.
[3.3] Ông Phan Văn L3 con là bà Phan Thị Đ (chết năm 2010) và bà Phan Thị T3 (chết năm 2002). Bà Phan Thị Đ có 01 người con là ông Nguyễn Văn K1 (chết năm 2013), ông K1 có vợ tên Trần Thị H, có 02 người con là Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Anh K. Bà Phan Thị T3 có chồng tên Phan Văn M (chết năm 1968), có 04 con chung là Nguyễn Thị G, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Bé D, Nguyễn Thị Bé L. Ngoài ra, bà T3 có 01 con riêng tên Kiều Minh V.
[3.4] Phần đất diện tích 3.323,6m², thuộc Thửa đất số 626, Tờ bản đồ số 15, xã P, bị đơn trình bày ông Phan Văn L3 đã chia cho bà Phan Thị T3 nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh. Bị đơn trình bày bà T3 quản lý, sử dụng đất, cung cấp các biên lai nộp thuế để chứng minh cho lời trình bày của mình. Tuy nhiên, thực tế bà Phan Thị T3 không có sinh sống thực tế tại địa phương, gần đây khoảng 03 năm trở lại đây thì ông Kiều Minh V là con bà T3 đã xây dựng một căn nhà và ở trên đất. Bà T3 và bà Đ cùng nhau tranh chấp đất với ông Phan Văn T4 xuyên suốt từ 1999 khi bà T3 và bà Đ còn sống, sau khi bà T3 và bà Đ chết thì các con của bà T3 và bà Đ tiếp tục tranh chấp với ông T4. Hồ sơ giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân huyện C đã thể hiện đầy đủ nội dung này. Đồng thời, Giấy ủy quyền ngày 30/5/2008 được UBND xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương chứng thực, có nội dung ông T, bà G, bà D, bà L, ông V ủy quyền toàn bộ mảnh đất 0ha.38.50,2m² cho ông Nguyễn Văn K1. Phía bị đơn thừa nhận uỷ quyền để đi giải quyết thương lượng với ông T4 chứ không đồng ý như nội dung giấy ủy quyền này, Giấy ủy quyền đã được UBND xã Đ chứng thực, nên, lời trình bày của các bị đơn không có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất giữa ông T4 và ông K1 là có cơ sở xem xét.
Hội đồng xét xử có cơ sở xác định phần đất này là tài sản chung của những người thừa kế của cụ Phan Văn L3 chia được phân chia từ di sản của cụ Phan Văn S chết để lại và chưa được phân chia. Trong quá trình giải quyết vụ án xác định ông Phan Văn T4 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên sau khi xem xét lời trình bày của các đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử xác định lại tư cách của ông Phan Văn T4 và bà Lê Thị H1 là người làm chứng trong vụ án, vì biết đến việc tranh chấp đất giữa ông Nguyễn Văn K1 và những người con của cụ Phan Thị T3 là phù hợp.
[3.5] Diện tích đất 3.323,6m², Nhà nước đã thu hồi một phần hiện nay còn lại diện tích 2.815m² (trong đó có 143.5 m² là đường đi), diện tích còn lại là 2671.5 m², (theo bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty T8, được Sở T9 kiểm tra nội nghiệp ngày 03/5/2022). Ông Nguyễn Văn K1 là người đã nhận số tiền đền bù 290.127.600đồng đối với diện tích đất bị thu hồi là 635,8m², theo Quyết định số 346/QĐ-UBND ngày 19/01/2010 và Phiếu chi tiền ngày 02/02/2010. Ngoài ra, sau khi ông T4 và ông K1 thoả thuận, trước thời điểm ông K1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00006/11 ngày 07/01/2009 (đã bị thu hồi), ông K1 cũng đã nhận số tiền đền bù 60.426.000đ, đối với phần diện tích đất bị thu hồi là 526.60m² (diện tích đất này đã được ông T4 và ông K1 thoả thuận là phần di sản của cụ S chia lại cho cụ L3), theo Quyết định số 10487/QĐ-UBND ngày 23/7/2008 và phiếu chi tiền ngày 01/8/2008. Như vậy ông K1 đã nhận tổng cộng số tiền là 350.553.600 đồng.
Những người thừa kế hàng thứ nhất của cụ Phan Văn L3 là bà Phan Thị T3 và bà Phan Thị Đ đã chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ hai, thứ ba của bà T3 và bà Đ mỗi bên được chia 1/2 giá trị tài sản chung của cụ S để lại được phân chia cho cụ L3, cụ thể: Ông Nguyễn Văn K1 là người thừa kế hàng thứ nhất của bà Phan Thị T3 đã chết, vợ ông K1 là bà Trần Thị H và hai con là ông Nguyễn Anh K và ông Nguyễn Tuấn A được chia 1335.75m²; phía ông T4 là người quản lý, sử dụng đất từ năm 1975 cũng đồng ý giao phần đất này theo thỏa thuận năm 2008 giữa ông T4 – ông K1, do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS thì ông K, ông T6 anh, bà H đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất thửa 17-1.
Xét thấy phía nguyên đơn chỉ khởi kiện yêu cầu công nhận ½ quyền sử dụng đất thửa 17-1 cho những người thừa kế của ông K1, và đồng ý giao ½ quyền sử dụng đất thửa 17-1 còn lại cho các con của bà T3. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với thỏa thuận ủy quyền giải quyết tranh chấp giữa ông K1 và các con của bà T3 năm 2008, thỏa thuận này không trái quy định pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 623 BLDS 2015, do đó, có cơ sở chấp nhận.
Do thửa đất 17-1 đã được Nhà nước thu hồi một phần, diện tích phần đất còn lại theo bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty T8 lập, được kiểm tra nội nghiệp ngày 03/5/2022 là 2.671,5m². Vì vậy, ông K, ông A, bà H là những người thừa kế của ông K1 được nhận phần đất diện tích 1.335,75m², ông T, bà G, bà D, bà L, ông V là các con của bà T3 được nhận phần đất diện tích 1.335,75m². Đối với số tiền bồi thường 350.553.600 đồng mà ông K1 đã nhận theo các Quyết định bồi thường số 10606 ngày 23/7/2008 và Quyết định bồi thường số 346 ngày 19/01/2010 của UBND huyện C, phía nguyên đơn đồng ý trả lại ½ cho phía bị đơn là phù hợp, do đó, có cơ sở chấp nhận.
*Xét yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận quyền sử dụng đất 22671.5m² đang tranh chấp thuộc một phần thửa 17, tờ bản đồ số 15 xã P là quyền sử dụng đất của bà Phan Thị T3 và nay là di sản của bà Phan Thị T3 để lại cho các con là đồng thừa kế của bà T3 gồm ông Nguyễn Văn T, ông Kiều Minh V, bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị Bé D và bà Nguyễn Thị Bé L.
Bị đơn trình bày sau chiến tranh, năm 1980 ông T4 có xin bà T3 cất một căn chồi để ở tạm, sau đó ông T7 có ý định không trả. Phía nguyên đơn trình bày, sau chiến tranh, năm 1975, ông M1 quay trở lại khai hoang, sử dụng toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp, đến năm 1985 ông M1 cho con là ông Phan Văn T4 sử dụng, đến năm 1986 bà Đ và bà T3 trở về yêu cầu ông T4 trả đất. Xét thấy phía bị đơn chỉ đưa ra lời trình bày mà không cung cấp được chứng cứ chứng minh năm 1980 bà T3 cho ông T4 ở nhờ trên đất. Trong khi đó, lời trình bày của nguyên đơn về việc sử dụng đất của ông M1 từ năm 1975 phù hợp với các văn bản của UBND huyện C về nguồn gốc quyền sử dụng đất. Hơn nữa, trong Giấy thỏa thuận ngày 13/8/1995 mà bị đơn cung cấp có thể hiện nội dung bà T3 xác nhận ông T4 đã ở và canh tác trên phần đất này từ trước đến nay. Do đó, lời trình bày của nguyên đơn cho rằng bà T3 có cho ông T4 ở nhờ trên đất là không có căn cứ.
Phía bị đơn cho rằng ông S chết để lại quyền sử dụng đất cho ông L3, sau đó ông L3 chia cho bà Phan Thị T3. Phía bị đơn cung cấp tài liệu là Giấy thỏa thuận ngày 13/8/1995 nội dung bà T3 để lại cho ông T4 phần đất 30 mét ngang, dài hết ranh đất; và Biên bản thỏa thuận đền bù cây điều ngày 28/5/1999 nội dung ông T4 đồng ý để lại cho bà T3 phần đất diện tích 10.601m² nhưng bà T3 phải trả số tiền 20.000.000 đồng cho ông T4, phần đất còn lại khoảng 0,40 ha là của ông T4, bà T3 không đồng ý trả số tiền 20.000.000 đồng mà chỉ hỗ trợ số tiền công 1.000.000 đồng. Phía bị đơn cho rằng các tài liệu trên chứng minh việc bà T3 là chủ sử dụng phần đất tranh chấp. Xét thấy ông T4 và bà T3 có quan hệ họ hàng, cha của bà T3 là ông L3, ông nội của ông T4 là ông L2. Ông L3 và ông L2 là hai anh em ruột, cùng là con của cụ Phan Văn S, cùng sinh sống trên phần đất tranh chấp. Năm 1986, khi bà T3 quay trở về phần đất này mới phát sinh tranh chấp với ông M1 và ông T4. Do các đương sự đều không có chứng cứ chứng minh được cụ S chết để lại đất cho ông L3 hay ông L2, cũng không có chứng cứ chứng minh ông L3, ông L2 để lại đất cho bà T3 hay ông M1 (cha của ông T4) hay bà Đ (cha của ông K1), nên mới lập các văn bản: Giấy thỏa thuận ngày 13/8/1995, Biên bản thỏa thuận đền bù cây điều ngày 28/5/1999 để thương lượng, thỏa thuận về phần đất tranh chấp mà ông T4 đang quản lý, sử dụng. Do đó, các tài liệu này không phải là cơ sở để xác định quyền sử dụng đất là của ai.
Phía bị đơn cho rằng ông S để lại quyền sử dụng đất cho ông L3, sau đó ông L3 chia cho bà Phan Thị T3. Tuy nhiên, phía bị đơn chỉ chứng minh được bà T3 có sinh sống trên phần đất này đến năm 1965, mà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà T3 đã được ông S, ông L3 tặng cho hay để thừa kế quyền sử dụng đất nên lời trình bày của bị đơn là không có cơ sở.
Xét thấy phía bị đơn không chứng minh được quyền sử dụng đất đã được tặng cho, để thừa kế hợp pháp cho bà T3 và bà T3 cũng không phải là người quản lý, sử dụng phần đất này từ năm 1975 nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.815m² đang tranh chấp là của bà Phan Thị T3.
- Xét yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Anh K, Nguyễn Tuấn A, bà Trần Thị H là người thừa kế của ông Nguyễn Văn K1 người đã nhận tiền bồi thường từ quyền sử dụng đất của bà T3 phải trả lại số tiền 350.553.600 đồng, tương đương với 1.162,4m² Nhà nước thu hồi.
Do bị đơn không chứng minh được thửa 17-1 thuộc quyền sử dụng của bà Phan Thị T3 nên yêu cầu phản tố của bị đơn buộc nguyên đơn phải hoàn trả toàn bộ số tiền bồi thường 350.553.600 đồng là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Căn cứ vào chứng thư thẩm định giá thì phần đất ngày 02 tháng 02 năm 2023:
- Diện tích đất ở 72 m² x 5.800.000đ/m² = 417.000.000đồng;
- Diện tích đất trồng cây lâu năm 2.599.5m² x 5.500.000đồng = 14.297.250.000đồng.
Tổng cộng giá trị phần đất tranh chấp là 14.714.250.000đồng/2 = 7.357.125.000đồng.
[5] Xét yêu cầu của ông Nguyên Anh K2 về chi phí đo vẽ hiện trạng vị trí đất theo hoá đơn giá trị gia tăng ngày 05 tháng 5 năm 2022 là 9.061. 562đồng và chi phí thẩm định theo hoá đơn giá trị gia tăng ngày 15 tháng 02 năm 2023 là 41.225.769đồng. Tổng là 50.287.331đồng (làm tròn là 50.000.000đồng). Nguyên đơn đề nghị phía bị đơn hoàn lại cho nguyên đơn số tiền 25.000.000đồng xét thấy là phù hợp nên ghi nhận.
[6] Xét bài phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí:
- Bà Trần Thị H, ông Nguyễn Anh K và ông Nguyễn Tuấn A mỗi người được chia tổng cộng giá trị đất và giá trị tiền đền bù là: 7.532.401.800đồng/3=2.510.800.600 nên mỗi người phải chịu án phí trên giá trị tài sản được chia, số tiền án phí theo qui định pháp luật.
-Bà H là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn nộp án phí nên được miễn tiền án phí.
- Nguyễn Văn T, ông Kiều Minh V, bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị Bé D, bà Nguyễn Thị Bé L mỗi người được chia tổng cộng giá trị đất và giá trị tiền đền bù là: 7.532.401.800 đồng/5= 1.506.480.360đồng nên mỗi người phải chịu án phí trên giá trị tài sản được chia theo qui định pháp luật.
- Ông T, bà D và bà G là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn nộp án phí nên được miễn tiền án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 2, 3, 5 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 68, Điều 146, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 227, Khoản 2 Điều 244, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 219, Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 615, Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.
1.1. Xác định phần đất diện tích 2.671.5 m², một phần Thửa đất số 17, đường, Tờ bản đồ số 15, xã P (theo bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty T8, được Sở T9 kiểm tra nội nghiệp ngày 03/5/2022) và số tiền 350.553.600 (ba trăm năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm) đồng là tài sản chung của cụ Phan Thị T3 và Phan Thị Đ chết để lại. Chia tài sản chung của của cụ Phan Thị T3 và cụ Phan Thị Đ để lại như sau:
1.2. Bà Trần Thị H, ông Nguyễn Anh K và ông Nguyễn Tuấn A được chia phần diện tích đất 1355.7m², thuộc một phần thửa đất số 17, đường, Tờ bản đồ số 15, xã P (thuộc khu A, theo bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty T8, được Sở T9 kiểm tra nội nghiệp ngày 03/5/2022)
1.3. Ông Nguyễn Văn T, ông Kiều Minh V, bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị Bé D, bà Nguyễn Thị Bé L được chia 1355.7m² thửa đất số 17, đường, Tờ bản đồ số 15, xã P (thuộc 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty T8, được Sở T9 kiểm tra nội nghiệp ngày 03/5/2022)
1.4. Bà Trần Thị H, ông Nguyễn Anh K và ông Nguyễn Tuấn A phải trả lại cho Ông Nguyễn Văn T, ông Kiều Minh V, bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị Bé D, bà Nguyễn Thị Bé L số tiền ông Nguyễn Văn K1 đã nhận tiền đền bù khi Nhà nước thu hồi đất là 175.276.800 đồng.
1.5. Buộc ông Nguyễn Văn T, ông Kiều Minh V, bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị Bé D, bà Nguyễn Thị Bé L cùng hoàn lại chi phí tố tụng cho ông Nguyễn Anh K số tiền 25.000.000đồng.
1.6. Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan chức năng tiến hành thủ tục đăng ký kê khai quyền sử dụng đất và nộp nghĩa vụ thuế, phí theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thanh toán theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi trả xong.
2. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn về việc công nhận quyền sử dụng đất diện tích 143.5m² thuộc phần đường (a).
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận quyền sử dụng đất diện tích 2671.5m² thuộc một phần thửa 17 là quyền sử dụng đất của bà Phan Thị T3 và nay là di sản của bà Phan Thị T3 để lại cho các con là đồng thừa kế của bà T3.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải trả lại toàn bộ số tiền bồi thường 350.553.600 đồng.
5. Đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T2 và bà Lê Thị H1 đề nghị được công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1368,3m² thuộc các thửa 17-2, 19-2.
6. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 82.216.012đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000đồng theo biên lai thu số 0022788 ngày 24/9/2019. Ông K phải tiếp tục nộp tiền án phí dân sự còn lại là 80.966.012 đồng.
- Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 82.216.012 đồng.
- Ông Kiều Minh V và bà Nguyễn Thị Bé L mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 57.194.411 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.250.000đồng/2 theo biên lai tạm ứng án phí số 0045122 ngày 15 tháng 7 năm 2022. Ông V và bà L tiếp tục nộp số tiền còn lại là 56.569.411đồng.
- Bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị G1 và bà Nguyễn Thị Bé D là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 541/2024/DS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp thừa kế về tài sản và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 541/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp thừa kế về tài sản và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh K - Nguyễn Văn T
