TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 541/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10-6-2025 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh
- Ông Phạm Văn Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 372/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 363/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Hồng H, sinh năm: 1993
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm: 1983
Địa chỉ: B5/21A Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà H vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà không số kế nhà B12/9 C, Thành phố Hồ Chí Minh.
( Ông T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 09/01/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - Nguyên đơn bà Đoàn Hồng H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Hồng H và ông Nguyễn Hoàng T bắt đầu chung sống từ năm 2011, do tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 166, quyển số 01/2011.Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng sống rất hạnh phúc. Nhưng sau đó đến khoảng năm 2020 thì giữa bà và ông T bắt đầu phát sinh các mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, ông T không chăm lo làm ăn, không phụ giúp vợ chăm sóc các con. Bà và ông T đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Đoàn Ngọc D, sinh ngày 09/10/2011 và Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 11/10/2015. Hiện tại các con đang sống cùng với bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu D và cháu T, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà H yêu cầu tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Hoàng T tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Hoàng T không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không thể hiện ý kiến của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bằng bất cứ văn bản nào, không giao nộp các tài liệu, chứng cứ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Đoàn Hồng H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T. Đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận “Đương sự Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1983, hiện không có đăng ký hộ khẩu thường trú hay tạm trú tại địa chỉ B12/10Q3 C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự Nguyễn Hoàng T hiện có cư trú tại nhà không số kế B12/9 D, Thành phố Hồ Chí Minh”. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Đoàn Hồng H vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt, còn bị đơn ông Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 166, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/10/2011 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Đoàn Hồng H và ông Nguyễn Hoàng T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp giữa bà H, ông T; Tòa án đã tiến hành tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng có liên quan đến vụ án. Tại công văn số 1151/UBND ngày 30/3/2025 của Ủy ban nhân dân xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thông tin tình trạng hôn nhân giữa bà H, ông T như sau: “Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn Ủy ban nhân dân xã không rõ, không năm thông tin”.
Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân muốn có hạnh phúc thì phải bắt đầu từ tình cảm cả hai phía. Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác".
Theo trình bày của bà H thì bà xác định bà không còn tình cảm với ông T, hạnh phúc gia đình không còn, bà không có mong muốn được hàn gắn đoàn tụ với ông T. Bà H và các con đã dọn ra ngoài ở riêng và tự một mình bà chăm lo việc học hành, sinh hoạt cho các con trong thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cho đến khi khởi kiện yêu cầu ly hôn. Còn ông T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến của mình đối với các yêu cầu ly hôn của bà H. Điều này cho thấy ông T đã không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà H. Mặt khác, giữa bà H và ông T đã có một thời gian dài không chung sống cùng nhau, cả hai đều không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình; không còn cùng nhau chăm sóc, lo lắng cho các con. Như vậy, bà H và ông T đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng. Tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2]. Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Đoàn Ngọc D, sinh ngày 09/10/2011 và Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 11/10/2015. Hiện tại các con đang sống cùng với bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu D và cháu T, còn ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến của ông đối với yêu cầu về con chung.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu D và cháu T thì các con đều có mong muốn được sống cùng với mẹ; việc chăm sóc, đưa đón các cháu đi học hàng ngày đều do mẹ chăm lo.
Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu D và cháu T đang trong độ tuổi học sinh, cũng dần bắt đầu bước vào giai đoạn dậy thì, thay đổi tâm sinh lý và rất cần sự quan tâm, chăm sóc, chỉ bảo của người mẹ. Hơn nữa cả hai cháu đều đã có sự gắn bó, thân thiết và có sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày với mẹ từ khi còn nhỏ, bà H cũng đảm bảo các điều kiện, khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con, đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, tinh thần cho các con sau khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung của bà H, giao cháu D và cháu T cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là theo đúng nguyện vọng mong muốn của các cháu và phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 6 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
[3.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Theo trình bày của bà H thì bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, còn ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến của ông về việc cấp dưỡng cho con chung sau khi ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung theo ý kiến của bà H. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Hoàng T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.4]. Về tài sản chung: Bà H yêu cầu được tự thỏa thuận về vấn đề tài sản chung giữa bà và ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến của ông về tài sản chung giữa ông và bà H. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề tài sản chung theo yêu cầu của bà H, Tòa án không đặt ra để giải quyết trong vụ án này, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
[3.5]. Về nợ chung: Bà H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến của ông về nợ chung giữa ông và bà H. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề nợ chung theo yêu cầu của bà H, Tòa án không đặt ra để giải quyết trong vụ án này, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
[3.6]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà Đoàn Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
[4]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Hồng H đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T về việc tranh chấp ly hôn.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Hồng H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 166, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/10/2011 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Đoàn Ngọc D, sinh ngày 09/10/2011 và trẻ Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 11/10/2015 cho bà Đoàn Hồng H nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đoàn Hồng H không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Hoàng T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
1.3. Về tài sản chung: Bà Đoàn Hồng H yêu cầu tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Bà Đoàn Hồng H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết.
2. Về án phí: Bà Đoàn Hồng H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà H đã nộp theo biên lai thu số 0051954 ngày 20/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đoàn Hồng H đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Dương |
2ΑΑΚΚΒΡ*αγιχαγ+
7
Bản án số 541/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 541/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Hồng H - Nguyễn Hoàng T
