Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 541/2024/HS-PT

Ngày: 19/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Các Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương

Ông Nguyễn Xuân Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 247/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn N, do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 740/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 403/2024/QĐ-PT ngày 22/8/2024.

Bị cáo kháng cáo:

Lê Văn N, sinh năm 1975 tại Thanh Hoá. Nơi thường trú: khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Hồng P (đã chết) và bà Vũ Thị C, sinh năm 1942; bị cáo là con thứ 05 trong gia đình có 06 anh, chị; đã ly hôn với chị Lưu Thị Lan H; có 01 con sinh năm 2006; Tiền sự: không; Tiền án: không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại gồm có chị Triệu Thị D, ông Nguyễn Văn K, bà Cao Thị N1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH T1 nhưng do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 24/02/2023, Lê Văn N có giấy phép lái xe ô tô hạng C, điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-153.52 lưu thông trên đường V, theo hướng từ thành phố B đi huyện T (đoạn đường có dải phân cách cứng bằng bê tông, chiều đường được phân chia làm 3 làn đường). Khi lưu thông đến Km 1857 + 600 đường V, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, N nhìn thấy phía trước bên trái ở làn đường số 1 có xe ô tô (không rõ biển số) đang bật đèn xi nhan rẽ trái, còn phía trước cùng chiều xe Nguyện có 1 xe ô tô (không rõ biển số) đang lưu thông ở làn số 2. Lúc này N bật đèn xi nhan bên phải, đồng thời điều khiển xe chuyển sang làn đường sát lề phải (làn số 3) để vượt lên thì phía trước chạm vào bên trái đuôi xe mô tô biển số 68T3-9288, do anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1989, thường trú: khu phố T, phường P, thành phố B điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước sát lề phải. Hậu quả làm anh C1 và xe mô tô đổ ngã xuống đường, anh C1 bị bánh sau bên phải xe ô tô tải biển số 60C-153.52 cán lên người, chết tại hiện trường.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn N khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên.

- Vật chứng vụ án:

  • + Xe ô tô tải biển số 60C-153.52 là tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn T2. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho Công ty T2.
  • + Xe mô tô biển số 68T3-9288, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Triệu Thị D (vợ của bị hại Nguyễn Văn C1).
  • + 01 USB lưu trữ dữ liệu được trích xuất từ camera ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông, chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2023 của Công an thành phố B xác định được vị trí, kích thước, chiều hướng dấu vết vụ tai nạn giao thông như sau:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường nhựa bằng phẳng, đường thẳng theo hướng B đi T, mặt đường rộng 10,1m được chia thành ba làn xe lưu thông, ngăn cách với phần đường ngược lại bằng dải phân cách cứng bằng bê tông cố định ở giữa. Phần đường xảy ra tai nạn theo hướng B đi T được chia thành ba làn đường, làn sát lề rộng 2,6m; làn giữa rộng 3,5m; làn sát dải phân cách rộng 4m. Hai bên đường không có nhà dân. Khu vực có đèn tín hiệu giao thông màu vàng, có biển báo cấm quay đầu xe.

Lấy trụ đèn tín hiệu giao thông màu vàng nằm trên lề phải theo hướng đi từ B đến T làm mốc.

  1. Vị trí nạn nhân nằm ngửa trên mặt đường, đầu hướng dải phân cách, chân bên lề đường. Đầu cách tâm trục trước xe mô tô biển số 68T3-9288 là 4,6m; cách tâm trục 3 bên phải xe ô tô tải biển số 60C-153.52 là 1,2m.
  2. Xe mô tô biển số 68T3-9288 nằm nghiêng bên trái trên lề, tâm trục trước cách mốc 5,3m; cách tâm trục 1 bên phải của ô tô tải biển số 60C-153.52 là 8,3m; tâm trục sau cách mốc 4,5m; cách tâm trục 4 của ô tô tải biển số 60C-153.52 là 2,2m.
  3. Xe ô tô tải biển số 60C-153.52 dừng trên mặt đường, đầu hướng về T, đuôi hướng ngược lại. Các trục bên phải cách lề 0,0m. T trục 4 bên phải cách mốc 5,4m. T trục 4 bên trái cách trụ đèn chiếu sáng số 355 là 9,4m. T trục 1 bên trái cách trụ đèn chiếu sáng số 355 là 15m.
  4. Đèn chiếu sáng số 355 nằm trên dải phân cách cố định bên trái phần đường theo hướng B đến T.

Vết phanh 1 dài 10m, rộng 0,63m; vết phanh 2 dài 8,4m, rộng 0,53m. Khoảng cách giữa hai vết phanh là 1,26m; khoảng cách giữa hai đầu vết phanh là 2,5m. Đầu vết phanh 1 cách lề 2,6m, cách mốc 5,4m; đầu vết phanh 2 cách lề 0,6m, cách mốc 3,3m.

- Kết luận giám định số 586/KL-KTHS, ngày 20/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận vị trí, hình dạng, kích thước, chiều hướng, cơ chế hình thành và mức độ dấu vết trên phương tiện giao thông xe ô tô biển số 60C-153.52 và xe mô tô biển số 68T3-9288 trong quá trình xảy ra tai nạn như sau:

Phía trước bên phải xe ô tô biển số 60C-153.52 (dấu vết trượt xước kim loại, mất sơn màu vàng tại cạnh ngoài cản xe bên phải, dấu vết trượt xước kim loại và dính chất màu trắng tại cạnh trước bậc lên xuống bên phải có cùng chiều từ trước ra sau; dấu vết trượt cao su màu đen tại má ngoài lốp trước bên phải trục 1, có chiều từ má lốp vào tâm lốp, ngược chiều quay tiến của bánh xe) phù hợp va chạm với bên trái đuôi xe mô tô biển số 68T3-9288 (dấu vết trượt xước, nứt vỡ đèn chuyển hướng bên trái đuôi xe, ốc đuôi xe dính chất màu vàng, dấu vết nứt vỡ vè chắn bùn sau và dính chất màu vàng, cạnh và mặt biển số có dính vết trượt cao su màu đen, ốp sườn nứt gãy và rơi khỏi vị trí ban đầu), chiều hướng từ trái sang phải, sau ra trước.

Dấu vết trượt xước, mài mòn tại các chi tiết bên trái: vè chắn bùn, đầu tay cầm lái, yếm chắn gió, mặt ngoài bộ phận giảm sốc, ốp bệ gác chân trước và sau, mặt ngoài ốp lốc máy của xe mô tô biển số: 68T3-9288. Chiều hướng từ trái sang phải, phù hợp va chạm mặt đường.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 068/TT/2023 ngày 09/3/2023, của Trung tâm P1, kết luận:

Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Văn C1 do đa chấn thương (Chấn thương đầu, mặt gây gãy vỡ nát toàn bộ khối xương sọ và xương mặt. Thoát hết tổ chức não ra ngoài; Chấn thương ngực kín gây biến dạng sụp lồng ngực). Nồng độ cồn trong máu: không thấy E và Methanol trong máu (bút lục số 81-82).

- Về dân sự: Bị cáo Lê Văn N và chủ phương tiện đã bồi thường 172.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu đồng) cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại bãi nại cho bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 740/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa và Thông báo sửa chữa bổ sung bản án số 165/2024/TBTA ngày 26/8/2024 đã quyết định bị cáo Lê Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Văn N: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 03/01/2024, bị cáo có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo nộp chứng cứ mới gồm: 01 Chứng nhận bà Vũ Thị C được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn nên xem xét giải quyết. Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS 2015 là đúng người, đúng tội. Cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù là có căn cứ và tương xứng với tội phạm bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo giao nộp giấy tờ bị cáo có mẹ là người có công với Nhà nước. Đây là tình tiết thuộc khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy mức án của cấp sơ thẩm dành cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn N được làm trong thời hạn phù hợp quy định tại các Điều 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn N khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường xong cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại bãi nại; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự (quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).

[4] Xét kháng cáo của bị cáo: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo giao nộp giấy tờ về việc có mẹ ruột là bà Vũ Thị C đã được tặng Huân chương kháng chiến. Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy lỗi trong vụ án này thuộc về bị cáo hoàn toàn. Sự chủ quan, xem thường các quy định về giao thông của bị cáo đã khiến cho bị hại Nguyễn Văn C1 dù đang thực hiện đúng các quy định khi tham gia lưu thông, đang chạy đúng làn đường của mình nhưng vẫn bị bị cáo cán lên người khi bị cáo lấn làn và hậu quả là anh C1 tử vong nên mức án của cấp sơ thẩm dành cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp và đúng quy định pháp luật. Do vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên HĐXX không xem xét.

[6] Đối với ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 740/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

2. Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm 740/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai; VKS sơ thẩm;
  • - TAND cấp sơ thẩm;
  • - Công an cấp quận, huyện;
  • - Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
  • - Phòng PV27-Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam;
  • - Bị cáo, đương sự trong vụ án;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 541/2024/HS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 541/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn N - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger