|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 541/2023/HS-ST Ngày: 22-11-2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Văn Cảm.
2. Bà Phạm Thị Tuyết Mai.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Nhung – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 817/2023/HSST ngày 23/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4920/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hồng Q, sinh năm 1997 tại tỉnh T; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh T; Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn H (chết) và bà Lê Thị Đ; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 31/5/2023 đến nay. Có mặt.
Bị hại:
1/ Bà C, sinh năm 2001; Địa chỉ: B đường C, phường L, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đang cư trú tại Pháp. Vắng mặt.
2/ Bà Trần Lê Ngọc M, sinh năm 1995; Địa chỉ: C, đường số N, khu dân cư T, phường P, quận C, thành phố T. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Trương Ngọc L, sinh năm 1955; Địa chỉ: B đường H, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
2/ Ông Phan Minh H, sinh năm 1993; Địa chỉ: B đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hiếu có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/5/2023, Lê Hồng Q đi xe ôm đến khách sạn G tại số B đường C, phường L, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh và tại đây Quận sử dụng căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T để thuê phòng ở tập thể trên tầng 4 của khách sạn. Một lúc sau, Q thấy bà C (Quốc tịch Pháp) và bà Trần Lê Ngọc M đi vào phòng và mang theo ba lô để trên giường rồi đi ra ngoài. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, thấy không có ai trong phòng thì Q đến giường của bà C và bà Trần Lê Ngọc M lục chiếc ba lô của bà C lấy 01 laptop hiệu Asus và lục ba lô của bà M lấy 01 laptop hiệu Macbook Air M2. Q bỏ 02 chiếc laptop trên vào trong ba lô của Q và đi đến cửa hàng điện thoại T tại số B đường H, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh chào bán cho ông Trương Ngọc L, nhưng ông L không mua. Q nhờ ông Liếu tìm người mua thì ông Liếu điện thoại cho anh Phan Minh H là chủ cửa hàng P, địa chỉ số B đường H, Phường M, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh đến mua. Sau khi kiểm tra máy thì anh H đồng ý mua 02 laptop trên với giá 6.000.000 đồng, nhưng ông L nói với Q là anh H mua 02 laptop trên với giá 5.500.000 đồng và Q đồng ý bán. Q nhận tiền rồi giao 02 laptop cho ông L, sau đó ông L đưa lại cho anh Hiếu 02 laptop và nhận 6.000.000 đồng.
Khoảng 18 giờ ngày 26/5/2023, bà Trần Lê Ngọc M và bà C trở về khách sạn thì phát hiện laptop bị mất nên đã đến Công an phường L, Quận O trình báo. Ngày 30/5/2023, qua truy xét Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận O phát hiện Lê Hồng Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, biển số 63B7-693.34 đi đến giao lộ C - N, phường L, Quận O có biểu hiện nghi vấn, nên đưa Q về trụ sở Công an phường L, Quận O lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận O điều tra làm rõ. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, Công an Quận O đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Hồng Q, thu giữ chiếc xe mô tô biển số 63B7-693.34 và 02 chiếc laptop do anh Phan Minh H giao nộp.
Theo Kết luận định giá tài sản số 143/KL-HĐĐGTS ngày 03/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận O kết luận: Laptop Macbook Air M2, số seri SKYV6V65W5T, ram 8GB, bộ nhớ 256GB trị giá 20.630.000 đồng; Laptop hiệu ASUS Zenbook 14, màu xanh trị giá 1.733.000 đồng. Tổng giá trị 02 laptop là 22.363.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Hồng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Q khai trước đây Q và Nguyễn Văn T cùng ở phòng trọ tại Khu chế xuất Quận B, sau đó T tự bỏ đi và sau khi trả phòng thì chủ phòng trọ đã đưa căn cước công dân của T cho Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xác minh nơi ở của Nguyễn Văn T tại Khối B, thị trấn K, huyện H, tỉnh Q, nhưng Trung không cư ngụ tại địa phương nên không ghi được lời khai.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 điện thoại di động hiệu Realme.
- - 01 balo có chữ Nike màu đen.
- - 01 quần dài màu đen.
- - 01 xe máy biển số 63B7-693.34; số máy: JA39E2872015; số khung: RLHJA3921NY443757.
- - 01 máy tính xách tay (Laptop) hiệu ASUS (Model UN431D), đã được niêm phong.
- - 6.000.000 (Sáu triệu) đồng tiền Việt Nam.
Bản Cáo trạng số 493/CT-VKS-P2 ngày 14/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Hồng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã thực hiện những hành vi như đã hệ thống tại bản Cáo trạng, nên có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 16 giờ ngày 26/5/2023, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy chiếc laptop hiệu Asus của bà C và chiếc laptop hiệu Macbook Air M2 của bà Trần Lê Ngọc M tại phòng ở tập thể trên tầng 4 khách sạn G, số B đường C, phường L, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả định giá tài sản thì 02 chiếc Laptop này trị giá 22.363.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Hồng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Lê Hồng Q từ 9 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận và trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo Lê Hồng Q tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được, nên có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 16 giờ ngày 26/5/2023, lợi dụng lúc bà C và bà Trần Lê Ngọc M đi ra khỏi phòng Khách sạn G, số B đường C, phường L, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Hồng Q đến lục trong balo của bà C lấy chiếc laptop hiệu Asus và lục trong balo của bà Trần Lê Ngọc M lấy chiếc laptop hiệu Macbook Air M2, rồi rời khỏi khách sạn. Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh thì 02 chiếc laptop trên có giá trị là 22.363.000 đồng, nên hành vi của bị cáo Lê Hồng Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó không những xâm phạm đến tài sản của người khác là một trong những khách thể quan trọng được Bộ luật Hình sự bảo vệ, mà còn làm cho người nước ngoài có ân tượng không tốt về đất nước và con người Việt Nam. Với tính chất của vụ án như vậy, đáng lẽ phải xử phạt bị cáo mức án cao trong khung hình phạt được áp dụng, để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực này. Song xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên Hội đồng xét xử áp dụng mức án như đại diện Viện kiểm sát đề nghị, tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu học tập, cải tạo, để sớm trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Chiếc điện thoại di động hiệu Realme và chiếc xe máy biển số 63B7-693.34; số máy: JA39E2872015; số khung: RLHJA3921NY443757, là tài sản của bị cáo Lê Hồng Q. Bị cáo không sử dụng các công cụ, phương tiện trên để thực hiện hành vi phạm tội, nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên trả lại cho bị cáo.
- - Cái balo có chữ Nike màu đen mà bị cáo dùng để đựng 02 chiếc laptop trộm cắp và 01 quần dài màu đen là những đồ dùng cá nhân của bị cáo. Các đồ vật trên hiện không còn giá trị sử dụng, nên căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- - Chiếc máy tính xách tay (Laptop) hiệu ASUS (Model UN431D) là tài sản của bà C bị mất trộm, nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên trả lại cho bà C. Hiện bà C đã trở về Pháp, nhưng tại Cơ quan điều tra bà có ý kiến nếu Cơ quan điều tra thu hồi được chiếc Laptop của bà thì giao cho Lãnh sứ quán Pháp tại Thành phố Hồ chí Minh, để Lãnh sự quán chuyển giao lại cho bà. Do đó, tuyên trả chiếc laptop hiệu ASUS (Model UN431D) của bà C, nhưng giao chiếc laptop này cho Lãnh sứ quán Pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh, để Lãnh sự quán chuyển giao lại cho bà C.
- - Xét số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng mà Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo, trong đó có 5.500.000 đồng bị cáo bán 02 chiếc Laptop trộm cắp. Lẽ ra phải tuyên trả lại cho ông Hiếu 5.500.000 đồng, nhưng tại phiên tòa ông Hiếu vắng mặt và tại Cơ quan điều tra ông không yêu cầu nhận lại, nên tuyên sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 5.500.000 đồng trên. Số tiền còn lại 500.000 đồng là tài sản của bị cáo, nó không có liên quan đến hành vi phạm tội, nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên trả lại cho bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp:
Bị cáo bán 02 chiếc Laptop mà bị cáo trộm cắp với giá 5.500.000 đồng, nhưng ông Trương Ngọc L môi giới cho ông Phan Minh H mua 6.000.000 đồng, để hưởng chênh lệch 500.000 đồng. Tại phiên tòa ông Phan Minh H vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra ông không yêu cầu ông Trương Ngọc L trả lại cho ông 500.000 đồng, nên không buộc ông Liếu phải trả lại cho ông Hiếu số tiền này. Nhưng đây là khoản tiền mà ông Trương Ngọc L thu lợi bất chính, nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, buộc ông Trương Ngọc L phải nộp 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng, để sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt Lê Hồng Q 09 (Chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 31/5/2023).
Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Tịch thu 5.500.000 (Năm triệu năm trăm nghìn) đồng, trong khoản tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng mà Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước. Hiện số tiền này Cơ quan điều tra đã nộp vào Kho bạc nhà nước Quận 00, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy nộp tiền ngày 18/08/2023, người nộp NGUYEN DOAN ANH V, đơn vị nhận CO QUAN CANH SAT DIEU TRA CONG AN TPHCM, số tài khoản ghi có 39490905977500000.
- - Buộc Trương Ngọc L phải nộp 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng, để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau:
- - 01 (Một) cái balo có chữ Nike màu đen và 01 (Một) cái quần dài màu đen, mã số LT/501BB/2023.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên trả lại cho bị cáo Lê Hồng Q các vật chứng sau:
- - 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu Realme (Màn hình bể, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), mã số DT/501BB/2023.
- - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda; Số loại WAVE ALPHA; Dung tích xi lanh: 109; BS63B7-693.34; SK: RLHJA3921NY443757; SM: JA39E2872015, mã số XMAY/501BB/2023.
- - Trích 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng trong số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng mà Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo, để trả lại cho bị cáo. Hiện số tiền này Cơ quan điều tra đã nộp vào Kho bạc nhà nước Quận 00, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy nộp tiền ngày 18/08/2023, người nộp NGUYEN DOAN ANH V, đơn vị nhận CO QUAN CANH SAT DIEU TRA CONG AN TPHCM, số tài khoản ghi có: 39490905977500000.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tuyên trả lại cho bà C: 01 (Một) máy tính xách tay (Laptop) hiệu ASUS (Model UN431D), đã được niêm phong (không kiểm tra niêm phong bên trong), mã số NP/501BB/2023. Nhưng giao cho Lãnh sự quán Pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh, để Lãnh sự quán chuyển giao lại cho bà C.
Các vật chứng đã nêu hiện đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/501 được lập giữa Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và PC01 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí:
Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 22/11/2023).
Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hậu |
Bản án số 541/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 541/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÊ HỒNG QUÂN PHẠM TỘI "TRỘM CẮP TÀI SẢN"
