Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 540/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 8 - 2024

V/v “ Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Tác
  2. Ông Võ Văn Tám

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên toà: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên sơ cấp

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 370/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 387/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 232/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1979.

Nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0338.155.xxx;

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0988.846.xxx;

(chị P xin vắng mặt, anh X vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn X thông qua mai mối được hai bên gia đình đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 1999 và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn thường hay cãi nhau, do anh X không có việc làm ổn định nên mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, anh X thường xuyên có hành vi bạo lực với chị rồi ly thân, sau đó cả hai tự hàn gắn và tiếp tục chung sống, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do anh X ghen vô cớ, nhiều lần kiếm chuyện bạo hành, có khi đánh chị nhưng vì thương con nên chị cố gắng nhịn, chị nhiều lần khuyên ngăn để anh X sửa đổi nhưng anh X vẫn không thay đổi kéo dài đến cuối tháng 12 năm 2023 âm lịch anh X tiếp tục ghen tuông vô cớ, từ đó ly thân cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay cả hai cũng không liên lạc hàn gắn với nhau vì chị đã không còn tình cảm, yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn X.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 31/12/2000 hiện đã thành niên và lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn X vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên anh X vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, anh cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, chị P có đơn xin xét xử vắng mặt, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt cả hai đương sự theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: hôn nhân của anh, chị thông qua mai mối, được hai bên gia đình đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 1999 và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẩn, do anh X không có việc làm ổn định không đủ chi tiêu trong gia đình nên xảy mâu thuẫn đến năm 2014 ly thân, sau đó hai người tự hàn gắn chung sống trở lại, trong cuộc sống lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, anh X hay ghen tuông vô cớ có hành vi bạo hành với chị P, tuy chị phỉ có khuyên ngăn nhưng anh X không thay đổi, kéo dài đến cuối năm 2023 vợ chồng chính thức ly thân, sau khi ly thân hai người cũng không liên lạc để hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với lời trình bày của bà Ngô Thị U, sinh năm 1956 (là mẹ ruột chị P), do anh, chị không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật thừa nhận, vì hôn nhân của anh chị là hôn nhân không hợp pháp do vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên đề nghị HĐXX xem xét không công nhận anh, chị là vợ chồng theo quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 31/12/2000 hiện đã thành niên và lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Nguyễn Thị P yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, bị đơn anh Nguyễn Văn X được tống đạt triệu tập lần thứ hai để nghe xét xử nhưng anh không có mặt, việc vắng mặt của anh chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay anh X cư trú tại ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (kết quả xác minh của Công an nhân dân xã P theo Phiếu xác minh ngày 16/7/2024) nên chị P khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về quan hệ tranh chấp: chị P xin ly hôn với anh X nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị thông qua mai mối, được hai bên gia đình đồng ý, có tổ chức lễ cưới năm 1999 và chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn, thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẩn, do anh X không có việc làm ổn định không đủ chi tiêu trong gia đình nên xảy mâu thuẫn đến năm 2014 ly thân, sau đó hai người tự hàn gắn chung sống trở lại, trong cuộc sống lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, anh X hay ghen tuông vô cớ có hành vi bạo hành với chị P, tuy chị phỉ có khuyên ngăn nhưng anh X không thay đổi, kéo dài đến cuối năm 2023 vợ chồng chính thức ly thân, sau khi ly thân hai người cũng không liên lạc để hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với lời trình bày của bà Ngô Thị U, sinh năm 1956 (là mẹ ruột chị P), do anh chị không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật thừa nhận, vì hôn nhân của anh chị là hôn nhân không hợp pháp do vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên HĐXX xem xét không công nhận anh, chị là vợ chồng theo quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 31/12/2000 hiện đã thành niên và lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị P là người xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 9; Điều 14; Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Về quan hệ hôn nhân: không công nhận chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn X là vợ chồng.

Về quan hệ con chung, tài sản và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007011 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, anh Nguyễn Văn X không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Đặng Văn T1 – V Bùi Văn C

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện PT;
  • - CCTHADS huyện PT;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 540/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 540/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không công nhận chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn X là vợ chồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger