Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 540/2025/DS-ST

Ngày: 26 – 6 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bông Hường
  2. Ông Phạm Quang Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1050/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 981/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 980/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; Địa chỉ trụ sở: Số H đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Bảo M, sinh năm 1991, ông Trương Nhật T, sinh năm 1995, ông Đoàn Anh T1, sinh năm 1994; Địa chỉ liên lạc: Tầng A, số I đường C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản uỷ quyền số 2395/2025/UQ-VPB ngày 17/6/2025) (có đơn xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số F đường N, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V trình bày:

Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ký với ông Huỳnh Ngọc L giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ LN2404082280846 (LD2410101770) ngày 04/4/2024, có nội dung như sau:

  • Số tiền vay: 309.732.620 đồng;
  • Mục đích sử dụng vốn: Phục vụ nhu cầu đời sống;
  • Thời hạn vay: 60 tháng, ngày kết thúc thời hạn vay là ngày 05/4/2029.
  • Lãi suất: 23%/năm, điều chỉnh theo từng thời kỳ.
  • Khách hàng thanh toán nợ gốc cho Ngân hàng 01 tháng/lần vào ngày 05, kỳ nợ gốc đầu tiên vào ngày 05/5/2024, tổng cộng 48 kỳ.
  • Khách hàng phải trả tiền lãi cho Ngân hàng định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 05, kỳ nợ lãi đầu tiên vào ngày 05/5/2024, tổng cộng 60 kỳ.

Ngân hàng đã chấp thuận và giải ngân một lần toàn bộ số tiền 309.732.620 đồng cho ông L vào ngày 10/04/2024.

Từ ngày 05/05/2024, ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông L chưa trả cho Ngân hàng được khoản nào. Ngân hàng đã tạo điều kiện về thời gian cho ông L trả nợ nhưng vẫn không có phương án trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn từ ngày 06/5/2024 và thông báo chấm dứt việc thực hiện đối với hợp đồng cho vay trên.

Nay Ngân hàng TMCP V khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Huỳnh Ngọc L phải trả ngay một lần, toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh (nếu có) liên quan theo hợp đồng nêu trên cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 26/6/2025 tổng cộng là: 428.770.461 đồng, trong đó, nợ gốc là: 309.732.620 đồng, nợ lãi trong hạn là: 5.074.524 đồng, nợ lãi quá hạn là 113.963.317 đồng. Ngoài ra, ông L còn phải tiếp tục chịu nợ lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 27/6/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Toà án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đương sự cho ông Huỳnh Ngọc L nhưng ông L không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Nguyên đơn: Có đơn xin vắng mặt.
  • - Bị đơn: Vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên căn cứ Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

  • + Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông Huỳnh Ngọc L có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 428.770.461 đồng. Ngoài ra, ông Huỳnh Ngọc L còn có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 27/6/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
  • + Án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2024 của nguyên đơn, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ LN2404082280846 (LD2410101770) ngày 04/4/2024, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo địa chỉ bị đơn cung cấp trong các Hợp đồng tín dụng, nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ của bị đơn tại số C đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ thường trú tại số F N, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh của Công an phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông Huỳnh Ngọc L không có hộ khẩu thường trú, không đăng ký tạm trú và không thực tế cư trú tại số C đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L có hộ khẩu tại số F N, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 6/2024, ông L bán nhà, tháng 9/2014 chuyển chỗ ở đi đâu không rõ.

Vì vậy, có căn cứ xác định địa chỉ thường trú và địa chỉ ghi trên hợp đồng tín dụng của bị đơn là tại số F N, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Như vậy, trong đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ nơi cư trú của bị đơn. Nay bị đơn vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ.

Từ những phân tích trên, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 03/6/2025. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Do ông L vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông L.

Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại các thông báo này cũng thể hiện rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông L không có mặt, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ, văn bản trình bày ý kiến về vụ án, cũng như không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông L phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Ngân hàng yêu cầu ông L trả số tiền nợ gốc là 309.732.620 đồng:

Xét Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ (LD2410101770) ngày 04/4/2024 cùng với lời khai của đại diện nguyên đơn thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 401 và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ hợp đồng tín dụng nêu trên có cơ sở xác định ông L có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng và số tiền Ngân hàng đã thực tế giải ngân là 309.732.620 đồng. Ông L chưa trả được cho Ngân hàng một khoản tiền nào, vì vậy số tiền gốc còn nợ là 309.732.620 đồng. Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn của bị đơn đã vi phạm quy định của Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng và vi phạm Điều 280, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông L trả số nợ gốc tính đến ngày 26/6/2025 là 309.732.620 đồng có cơ sở để chấp nhận.

[2.2] Ngân hàng yêu cầu ông L trả số tiền lãi tính đến ngày 26/6/2025 là 119.037.840 đồng, trong đó lãi trong hạn là 5.074.524 đồng, lãi quá hạn là 113.963.317 đồng. Yêu cầu ông L trả tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 27/6/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng:

Tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ LN2404082280846 (LD2410101770) ngày 04/4/2024 và Giấy đề nghị kiêm phụ lục hợp đồng ngày 04/4/2024, các bên có thỏa thuận lãi suất vay trong hạn là 23%/năm, cố định trong 12 tháng đầu tiên sau đó kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. Lãi suất trong hạn hiện nay là 13,29%/năm. Ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn lại của ông L sang nợ quá hạn từ ngày 06/5/2024 và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N về việc quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì Hội đồng xét xử xét thấy hai bên thỏa thuận mức lãi suất, lãi suất quá hạn phù hợp với quy định của pháp luật.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông L trả số tiền nợ lãi tính đến ngày 26/6/2025 là 119.037.840 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn là 5.074.524 đồng và nợ lãi quá hạn là 113.963.317 đồng là có cơ sở nên được chấp nhận.

Như vậy, tính đến ngày 26/6/2025, tổng số tiền mà ông L có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là 428.770.461 đồng, trong đó nợ gốc là 309.732.620 đồng, lãi trong hạn là 5.074.524 đồng, lãi quá hạn là 113.963.317 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng và các khế ước nhận nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[2.3] Về thời hạn và phương thức trả nợ:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L trả số tiền còn nợ một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã lâu, đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.

[2.4] Tại phiên tòa hôm nay, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 428.770.461 đồng, do đó án phí ông L phải chịu là 21.150.818 đồng.

Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ tiền tạm ứng án phí là 8.682.426 đồng theo Biên lai thu tiền số 0045433 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280, Điều 385, Điều 401, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 21 và Điều 22 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N về việc quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V:

Buộc ông Huỳnh Ngọc L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền còn nợ của Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ LN2404082280846 (LD2410101770) ngày 04/4/2024 tính đến ngày 26/6/2025 là 428.770.461 đồng (bốn trăm hai mươi tám triệu, bảy trăm bảy mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc là 309.732.620 đồng, lãi trong hạn là 5.074.524 đồng, lãi quá hạn là 113.963.317 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Thời hạn thanh toán: Thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Địa điểm thi hành: Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Huỳnh Ngọc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 21.150.818 đồng (hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi nghìn, tám trăm mười tám đồng).

- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V toàn bộ tiền tạm ứng án phí là 8.682.426 đồng (tám triệu, sáu trăm tám mươi hai nghìn, bốn trăm hai mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0045433 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3/ Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự văng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đinh Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 540/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 540/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP V và ông Huỳnh Ngọc L, buộc ông Huỳnh Ngọc L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền còn nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger