|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 640/2024/HSPT Ngày 09 tháng 8 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán: bà Lê Thị Tuyết Trinh
ông Hà Huy Cầu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Trần Mạnh Hùng – Thư ký
Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 479/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức H do bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 730/2024/QĐPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024.
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Đức H, sinh năm 1967 tại Hưng Yên; HKTT: số A đường H, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: công chức; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1937 (đã mất); Mẹ: Lê Thị Bích L1, sinh năm 1938; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1971 và có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng, thu hồi đất tại số B, đường L (nay là đường T), Phường H, thành phố V:
Khu đất khoảng 3.000m² tọa lạc tại 261B Lê Hồng P (còn có địa chỉ khác là 261 Lê Hồng P; 2B Lê Hồng P; 261 khu B) nay là số B T, Phường H, thành phố V thuộc khu vực đồi Ngọc Tước là đất do Nhà nước quản lý. Đây là đất lâm nghiệp thuộc khoảnh 1, lô C do Hạt kiểm lâm thành phố V quản lý từ năm 1983. Đến năm 1993, Hạt Kiểm lâm giao cho dự án 732 quản lý (dự án cũng thuộc Hạt Kiểm lâm V). Ngày 07/6/1994, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành quyết định 975/QĐ-UBT giao cho dự án 1893 thuộc Sở Lâm nghiệp quản lý. Ngày 20/7/1998, UBND tỉnh có quyết định số 1663 giao cho UBND thành phố V quản lý. Ngày 20/11/1998, UBND thành phố V ban hành quyết định 603 giao cho Công ty L6 quản lý. Theo bản đồ đo đạc năm 1989 của T6 được UBND Phường 8 sử dụng để lập bản đồ địa chính thì khu đất trên thuộc thửa 372, tờ bản đồ số 5 do Nhà nước quản lý.
Ngày 25/8/1990, Ủy ban nhân dân Đ - Côn Đảo có Quyết định số 178/QĐ-UB giao 5.800m² đất tại đường L (nay là đường T) thuộc Phường H, thành phố V cho Bộ G để xây dựng Nhà nghỉ giáo viên (nay là Khách sạn H2). Ngày 20/01/1991, Chủ đầu tư thuộc Bộ G và Đào tạo ký Hợp đồng giao nhận thầu thi công, xây lắp công trình với Xí nghiệp dịch vụ cung ứng xây lắp C. Đại diện Ban quản lý công trình của Nhà thầu là ông Nguyễn Công U đã liên hệ UBND Phường 8 xin mượn 300m² đất thuộc khu đất trên nằm bên cạnh công trình để xây dựng lán trại, kho chứa vật liệu phục vụ thi công và được đại diện U là ông Nguyễn Thế T (Cán bộ địa chính của Phường H) chấp thuận (bằng miệng), với giao kết khi Nhà nước cần sử dụng hoặc giao cho tổ chức khác thì phải tự tháo dỡ, giao lại đất, không được yêu cầu bồi thường.
Ngày 24/01/1995, công trình xây dựng nhà nghỉ giáo viên hoàn thành, nhà thầu xây dựng cho ông Nguyễn Công U và ông Lê Ngọc L2 khu nhà lán trại, nhà kho, máy cưa cũ. Cuối năm 1995, ông Nguyễn Công U và ông Lê Ngọc L2 bán máy cưa cũ cho Nguyễn Văn Đ. Đồng thời cho Nguyễn Văn Đ thuê lán trại để đưa gia đình đến ở, giá thuê là 150.000 đồng/tháng. Ngày 01/4/1997, Nguyễn Văn Đ nhờ và được ông Nguyễn Công U làm giấy xác nhận khống là nhân viên lao động hợp đồng tại nhà nghỉ giáo viên với mốc thời gian từ năm 1991, mục đích để Nguyễn Văn Đ đăng ký tạm trú và đăng ký cho con đi học. Nguyễn Văn Đ đã đến Công an P3 đăng ký tạm trú cho gia đình và đã được cấp Sổ đăng ký tạm trú có thời hạn số 1145/KT3 ngày 27/05/1999, lấy số 261, khu B, đường L; sổ tạm trú có giá trị đến ngày 30/05/2000; gia hạn lần 1 đến ngày 30/05/2001; gia hạn tiếp tục đến ngày 30/04/2002.
Ngày 01/10/1998, Ban ký hợp đồng cho Nguyễn Văn Đ thuê đất ao tự nhiên, diện tích khoảng 300m² vị trí giáp đường Lê Hồng P và gần nhà nghỉ G1, giá thuê là 1.500.000 đồng/năm, thời hạn hợp đồng là 2 năm.
Ngày 30/09/1999, ông Nguyễn Công U và ông Lê Ngọc L2 viết tay Giấy thanh lý bán khu nhà tạm dùng làm lán trại cho Nguyễn Văn Đ với giá 1.200.000 đồng. Từ đó, Nguyễn Văn Đ không phải trả tiền thuê lán trại nữa. Sau đó, trong quá trình sử dụng, Đ lấn chiếm đất xung quanh để trồng cây ăn quả khoảng 3.000m². Đất này là đất Nhà nước do Hạt kiểm lâm và Công ty L6 đang quản lý.
Ngày 05/4/2000, UBND thành thành phố V có công văn số 277 về việc không cho phép UBND các phường, xã ký hợp đồng cho thuê đất Nhà nước đang quản lý. Do vậy, Công đoàn cơ sở Phường 8 có Thông báo chấm dứt hợp đồng, yêu cầu Nguyễn Văn Đ phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất ao thuê để giao trả mặt bằng cho Phường 8 quản lý. Nguyễn Văn Đ đã ký nhận thông báo này. Nhưng không giao trả mà vẫn tiếp tục chiếm dụng trái phép ao và lấn chiếm thêm đất Nhà nước quản lý.
Ngày 13/7/2000, UBND thành phố V có Quyết định 207/QĐ.UB thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành việc chấp hành thể lệ quản lý, sử dụng đất tại khu vực đồi N, Phường H, thành phố V gồm: Phòng địa chính, Thanh tra thành phố V, Phòng Xây dựng và Quản lý đô thị, Hạt K. Đại diện U tham gia Đoàn là ông Nguyễn Thế T. Đoàn kiểm tra đã kiểm tra, lập các biên bản xác định nguồn gốc đất, thời điểm và tình trạng sử dụng đất của các hộ dân trong khu vực trong đó có hộ Nguyễn Văn Đ (có chữ ký của Nguyễn Văn Đ). Cụ thể:
- + Biên bản làm việc ngày 29.8.2000: trong đó xác định nhà, đất số 261B, Lê Hồng P, Phường H hộ Nguyễn Văn Đ đang ở diện tích khoảng 300m² có nguồn gốc ông Nguyễn Công U và Lê Ngọc L2 viết giấy bán ngày 30/9/1999;
- + Biên bản làm việc ngày 30/8/2000: xác định gần khu đất 261B có ao nuôi cá (khoảng 300m²) và căn nhà tạm do Công đoàn Phường 8 cho Nguyễn Văn Đ thuê từ 01/10/1998, Nguyễn Văn Đ còn bao chiếm thêm khoảng 3.000m² đất để trồng cây, hoa màu.
Từ đó, Đoàn kiểm tra đã có Báo cáo ngày 21/11/2000 gửi đến UBND thành phố V, các ban ngành chức năng và U trong đó kết luận: nhiều hộ dân trong khu vực, trong đó có hộ Nguyễn Văn Đ lấn chiếm, sử dụng trái phép đất Nhà nước quản lý, xây nhà trái phép để ở; đề nghị xử phạt hành chính về hành vi lấn chiếm, sử dụng đất trái phép theo Nghị định 04/CP ngày 10/01/1997; và xử
phạt hành chính về hành vi xây nhà trái phép theo Nghị định 48/CP ngày 05/5/1997; kiến nghị buộc tháo dỡ, thu hồi đất lấn chiếm theo quy định.
Ngày 30/12/2005, UBND tỉnh B có Quyết định số 5129/QĐ-UBND về việc thu hồi 2.274,2m² đất tại đường T (Lê Hồng P cũ) để xây dựng Trung tâm K và Trung tâm Phát triển quỹ đất, trong đó có diện tích đất 248,28m² bị Nguyễn Văn Đ lấn chiếm, xây dựng nhà trái phép.
Nội dung các tài liệu gồm: Biên bản kiểm kê ngày 04/5/2006 của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố V; Danh sách đề nghị đền bù giao đất cho công trình của Ủy ban nhân dân Phường H ngày 04/7/2006 do ông Nguyễn Thế T (Cán bộ địa chính) và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường L; Phiếu kiểm tra hồ sơ số 01 ngày 28/7/2006 do Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thuộc UBND thành phố V lập, đều xác định đất hộ Nguyễn Văn Đ sử dụng tại số B L có nguồn gốc chiếm dụng đất Nhà nước chưa sử dụng từ 30/9/1999; sổ tạm trú có tẩy, sửa; thuê ao cá của P1 nên không đủ điều kiện bồi thường quyền sử dụng đất.
Ngày 29/08/2006, UBND thành phố V có Quyết định số 2325/QĐ-UBND phê duyệt kinh phí bồi thường, hoa màu, vật kiến trúc và các khoản hỗ trợ với tổng số tiền 46.671.686 đồng cho hộ Nguyễn Văn Đ. Ngày 22/09/2006, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cùng các ban ngành, chính quyền địa phương lập biên bản chi trả tiền. Nguyễn Văn Đ đã ký biên bản nhận số tiền đền bù 46.671.686 đồng, hẹn đến ngày 06/10/2006 sẽ hoàn tất việc tháo dỡ công trình, giao trả mặt bằng cho Nhà nước và không khiếu nại nữa. Nhưng sau đó Nguyễn Văn Đ không tháo dỡ nhà, không giao trả đất cho Nhà nước mà vẫn sử dụng trái phép.
Ngày 28/09/2006, Nguyễn Văn Đ gửi đơn xin hỗ trợ đất tái định cư; ngày 11.10.2006, UBND thành phố V giải quyết bằng văn bản số 1572/UBND-VP xác định đất thu hồi của hộ Nguyễn Văn Đ là đất do Nhà nước quản lý, gia đình Nguyễn Văn Đ tự ý xây dựng nhà để ở, không đủ điều kiện để được cấp đất tái định cư.
Tháng 10 năm 2008, Nguyễn Văn Đ gửi đơn khiếu nại Quyết định số 2325/QĐ-UBND ngày 29/8/2006 của UBND thành phố V; ngày 28/10/2008, UBND thành phố V có văn bản số 2093/UBND giao Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố V kiểm tra xác minh. Ngày 18/03/2009, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng có Báo cáo số 48/BC-BBT xác định phần nhà, đất với diện tích 248,28m² và diện tích đất 554,2m² Nguyễn Văn Đ đang sử dụng nằm trong Khoảnh 1, Lô C bản đồ trồng rừng ven biển tỷ lệ 1/10.000 của Đ Côn Đảo năm
1980, Nguyễn Văn Đ chiếm dụng xây dựng nhà để ở và trồng cây từ năm 1998, không đủ điều kiện bồi thường quyền sử dụng đất.
Như vậy, trong thời gian thuê và sau khi mua căn nhà tạm từ các ông Nguyễn Công U và Lê Ngọc L2, Nguyễn Văn Đ đã sử dụng, sửa chữa căn nhà tạm trên diện tích 248,28m² đất do Nhà nước quản lý. Sau đó, Nguyễn Văn Đ tiếp tục lấn chiếm, sử dụng trái phép đất Nhà nước đang quản lý với các diện tích 554,2m² và 827,4m². Cơ quan quản lý Nhà nước đã kiểm tra, lập hồ sơ vi phạm, thu hồi đất, bồi thường xong vật kiến trúc và hoa màu trên đất diện tích 248,28m². Cơ quan quản lý Nhà nước đã xem xét, giải quyết xong các khiếu nại của Nguyễn Văn Đ bằng văn bản số 1572/UBND-VP ngày 11/10/2006 của UBND thành phố V, Báo cáo số 48/BC-BBT ngày 18/03/2009 của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố V. Nhận định của các văn bản này có căn cứ, đúng quy định của Nhà nước và pháp luật trong lĩnh vực quản lý đất đai.
2. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Đức H:
Ngày 04/4/2009, UBND thành phố V có Quyết định 1726/QĐ-UBND về việc thu hồi 554,2m² đất tại Phường H, thành phố V do Nguyễn Văn Đ đang sử dụng để xây dựng công trình Khu biệt thự Đồi Ngọc T1. Ngày 13/5/2009, UBND thành phố V có Quyết định 2225/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường trong đó xác định rõ: căn cứ khoản 3 Điều 7 Nghị định 197/CP, khoản 4 Điều 14 Nghị Định 84/CP, trường hợp Nguyễn Văn Đ không được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất, chỉ bồi thường hoa màu với số tiền là 7.344.500 đồng.
Ngày 10/06/2009, Nguyễn Văn Đ gửi đơn khiếu nại đến UBND thành phố V yêu cầu bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích 554,2m² bị thu hồi, nhưng không được đền bù theo Quyết định số 2225/QĐ-UBND ngày 13/05/2009. Trong đơn, Nguyễn Văn Đ trình bày sai sự thật là đất nhận chuyển nhượng từ ông Cao Văn C vào năm 1990.
Ngày 10/09/2009, Nguyễn Văn Đ tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến UBND thành phố V yêu cầu bồi thường quyền sử dụng đất 248,28m² bị thu hồi tại quyết định 2325/QĐ-UBND ngày 29/08/2006 của UBND thành phố V, trong đơn Nguyễn Văn Đ cũng trình bày sai sự thật về nguồn gốc đất: là đất do khai phá và canh tác từ năm 1990.
Quá trình khiếu nại, Nguyễn Văn Đ đã cung cấp tài liệu, giấy tờ trong đó có những tài liệu không đúng sự thật, mâu thuẫn về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời gian cư trú kèm theo Đơn khiếu nại. Cụ thể:
- + Giấy bán thanh lý nhà tạm do các ông Nguyễn Công U và Lê Ngọc L2 viết tay đề ngày 30/9/1999. Kết quả điều tra xác định đây là thời điểm chính xác mà ông Nguyễn Công U và ông Lê Ngọc L2 bán khu nhà lán trại cho Nguyễn Văn Đ.
- + Giấy xác nhận do ông Nguyễn Công U viết tay đề ngày 05/10/2009, có nội dung xác định thời điểm mua, bán lán trại vào năm 1991. Kết quả điều tra xác định Nguyễn Văn Đ đến gặp ông Nguyễn Công U trình bày giấy mua bán xác lán trại viết ngày 30/9/1999 đã bị mất, nhờ ông Nguyễn Công U viết lại giấy bán và xác nhận việc mua, bán diễn ra vào năm 1991 để Nguyễn Văn Đ làm thủ tục nhập hộ khẩu gia đình. Do tin tưởng lời trình bày của Đ là thật nên ông Nguyễn Công U đã viết giấy xác nhận thời điểm mua, bán lán trại vào năm 1991 mà hoàn toàn không biết mục đích của Nguyễn Văn Đ sẽ sử dụng làm tài liệu gian dối để khiếu nại đòi bồi thường giá trị quyền sử dụng đất, cấp đất tái định.
- + Nguyễn Văn Đ sử dụng bản sao (photocopy) Sổ đăng ký tạm trú số 1145/KT3 tại nhà 261B Lê Hồng P đã được sửa chữa thời điểm cư trú (phần cột ghi thời gian chuyển đến) từ “27.5.99” thành “27.5.90”, rồi đến UBND Phường 8 chứng thực sao y bản chính vào ngày 30/11/2009. Do các bản sao được sửa chữa tinh vi, để chen lẫn vào các bản sao khác nên bộ phận hành chính công theo thủ tục một cửa của U trong quá trình tiếp nhận, kiểm tra, trình lãnh đạo UBND Phường ký, đóng dấu, vào sổ, hoàn trả đã không phát hiện được. Kết quả điều tra, đối chiếu hồ sơ hộ khẩu tạm trú của gia đình Nguyễn Văn Đ tại Công an thành phố V, Công an P3, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố V, xác định Nguyễn Văn Đ đã dùng các bản sao Sổ đăng ký tạm trú đã được sửa mục thời gian chuyển đến (ngày 27.5.90) để lừa dối cơ quan Nhà nước về thời điểm sử dụng đất nhằm mục đích được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất và cấp đất tái định cư khi bị thu hồi đất.
Ngày 18/9/2009, UBND thành phố V có văn bản số 2251/UBND-VP giao trách nhiệm cho Thanh tra thành phố V xác minh, tham mưu để giải quyết khiếu nại của Nguyễn Văn Đ đối với Quyết định 2325/QĐ-UBND ngày 29/08/2006 (diện tích 248,28m²) và Quyết định 2225/QĐ-UBND ngày 13.05.2009 (diện tích 554,2m²) theo quy định của pháp luật.
Kết quả điều tra, đánh giá tài liệu do Thanh tra thành phố V thu thập và trực tiếp làm việc, nhận thấy:
Phiếu kiểm tra hồ sơ số 01 ngày 28/7/2006 do Ban bồi thường giải phóng mặt bằng của Ủy ban nhân dân thành phố V lập để xác định nguồn gốc diện tích 248,28m² đất thu hồi của hộ Nguyễn Văn Đ: có ghi nhận ý kiến của Ủy ban
nhân dân Phường H: “không đủ điều kiện để bồi thường quyền sử dụng đất. Nhà xây dựng năm 1998”.
Biên bản xác minh thời gian xây dựng, sửa chữa nhà, các công trình và thời gian cư ngụ tại địa phương để xét công nhận quyền sử dụng đất phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do U lập ngày 08/4/2008 đối với hộ Nguyễn Văn Đ (thành phần có: ông Nguyễn Thế T, đại diện Công an P3 và ông Nguyễn Văn Đ; được Chủ tịch U xác nhận) đã xác định diện tích đất 550m² thuộc thửa số 58, tờ bản đồ địa chính phường số 05 có quá trình “sử dụng từ năm 1999, trồng cây, không có nhà. Do ông Đ tự chiếm dụng không phép để trồng cây”.
Biên bản xác minh nguồn gốc đất (phục vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư) do U lập ngày 02/12/2008 (do Nguyễn Thế T và Phó chủ tịch U ký) xác định diện tích đất 554,2m² đất thuộc tờ bản đồ số 05, thửa số 58 tại số B L, Phường H có nguồn gốc: “năm 1999, ông Đ tự chiếm dụng đất Nhà nước không phép để trồng cây ăn trái” và kết luận “Không đủ điều kiện để đền bù quyền sử dụng đất”.
Phiếu kiểm tra hồ sơ ngày 10/01/2009 của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố V đã xác định diện tích đất 554,2m² đất có nguồn gốc: năm 1999, ông Đ tự chiếm dụng đất Nhà nước để trồng cây nên theo ý kiến của U thì ông Đ không đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ về đất.
Phiếu kiểm tra hồ sơ phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ đất ngày 18/02/2009 do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất lập đã xác định đối với diện tích đất 554,2m² có nguồn gốc: “năm 1999, ông Đ tự chiếm dụng đất Nhà nước để trồng cây ăn trái” và đề xuất: “trường hợp này không đủ điều kiện bồi thường hỗ trợ về đất”.
Biên bản làm việc số 01 ngày 27/7/2009 của Thanh tra thành phố V, Nguyễn Văn Đ trình bày sai sự thật về nguồn gốc nhà, đất: do sang nhượng vào tháng 9 năm 1991 từ ông Nguyễn Công U và Lê Ngọc L2 với diện tích khoảng 300m²; do mất giấy nên ngày 30/9/1999, ông Đ yêu cầu ông U viết lại giấy bán thanh lý nhà tạm. Năm 1992 đưa gia đình từ quê vào ở đây và có kê khai đăng ký tạm trú cho gia đình. Thấy xung quanh có nhiều đất trống nên gia đình đã khai phá thêm gần 4000m² để trồng rau màu, chăn nuôi; sang nhượng của ông Cao Văn C 1000m²; thuê ao cá của Công đoàn Ủy ban nhân dân P.
Biên bản làm việc số 02 ngày 29/7/2009 tại Thanh tra thành phố V, bà Đinh Thị T2, đại diện Thanh tra thành phố V cùng làm việc với đại diện Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố V, Công ty L6, Đại diện U (ông Nguyễn
Thế T) đã xác định: phần đất hộ Nguyễn Văn Đ đang sử dụng gồm nhà, đất tại số B L với các diện tích 248,28m² + 554,2m² + phần dự kiến quy hoạch mở đường chưa thu hồi thể hiện tại Biên bản ngày 04/3/2009 (do Ban bồi thường lập), nhưng không có tên ông Đ trong sổ kê khai đăng ký; ông Cao Văn C không có đất sang nhượng vì chỉ có 1.000m² và đã sang nhượng cho ông Nguyễn Văn M vào năm 1988, được U xác nhận.
Biên bản làm việc số 03 ngày 29/7/2009 giữa Đại diện Thanh tra thành phố V, U, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng có kèm sơ đồ vị trí đất và trích sổ mục kê, ông Nguyễn Thế T và ông Vũ Văn Q đã có ý kiến xác định: vào thời điểm năm 2006, khi Nhà nước có Quyết định số 2325/QĐ-UBND thu hồi gồm nhà, đất 261B Lê Hồng P thì nhà ông Đ không được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích 248,28m². Ngày 13/5/2009, khi Nhà nước có Quyết định số 2225/QĐ-UBND về việc thu hồi 554,2m² thì hộ Nguyễn Văn Đ cũng không được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất.
Biên bản làm việc số 04 ngày 03/8/2009 với Thanh tra viên Đinh Thị T2 (có kèm sơ đồ vị trí đất và trích sổ mục kê), Đại diện U (ông Nguyễn Thế T) có ý kiến xác định đất Nguyễn Văn Đ đang sử dụng là một phần trong diện tích 21.392m² thuộc thửa 372 tờ bản đồ 05 (đo đạc 1989) ký hiệu đất hoang; trên bản đồ 2001 là đất hoang không có lô thửa; sổ mục kê thể hiện đất Nhà nước chưa sử dụng, không có tên đơn vị nào đăng ký.
Biên bản làm việc số 05 ngày 09/10/2009 với Thanh tra thành phố V, Nguyễn Văn Đ khai sai sự thật về nguồn gốc nhà, đất: xác định các tài sản là nhà, đất tại số B L (trước là 2B Lê Hồng Phong) hình thành do sang nhượng của ông Nguyễn Công U vào năm 1991, còn diện tích 554,2m² do Đ khai phá sau này.
Biên bản làm việc số 06 ngày 26/11/2009 với Thanh tra thành phố V, Đại diện Hạt Kiểm lâm thành phố V, ông Phạm Văn T3 cung cấp thông tin: nhà, đất số 261B Lê Hồng P có nguồn gốc là lán trại của Xí nghiệp X1 dựng trên đất Nhà nước để thi công nhà nghỉ giáo viên. Đối chiếu với bản đồ trồng rừng phi lao năm 1984 được Sở Nông – L3 – Thủy phê duyệt thì phần lán trại thuộc phạm vi Khoảnh 1-Lô C có diện tích 5hecta đất rừng do Nhà nước quản lý; Năm 2000, Đoàn kiểm tra theo Quyết định số 207/QĐ-UBND của UBND thành phố V đã xác định: trường hợp Nguyễn Văn Đ sử dụng 300m² nhà tạm từ năm 1999, phần nhà nguyên là lán trại của Xí nghiệp X1 được ông U và ông L2, là cán bộ nhà nghỉ, bán cho ông Đ.
Biên bản kiểm tra hiện trạng số 07 ngày 09/12/2009 do Nguyễn Văn Đ chỉ ranh cho Đoàn công tác gồm Thanh tra thành phố V, Ban Bồi thường giải phóng
mặt bằng, Hạt K, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Công ty cổ phần P4, Công ty cổ phần P5, Đại diện U (ông Nguyễn Thế T) đã kết luận: Hiện trạng nhà, đất hộ Nguyễn Văn Đ tại số B L thuộc đất Lô C (Bản đồ trồng rừng phi lao) từ 1983 đến 1989 do Trạm trồng rừng quản lý; từ 1989 đến 1993 do Hạt Kiểm lâm quản lý; từ 1993 đến 1998 do Dự án 732 quản lý; từ 1998 đến nay, Công ty L6 (tiền thân của Công ty cổ phần P4) quản lý theo Quyết định 603 của UBND thành phố V.
Đồng thời, Thanh tra thành phố V có các văn bản số 238/TTr ngày 27/10/2009 và số 16/TTr ngày 26/01/2010 gửi U đề nghị xác định rõ nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời gian cư trú của hộ Nguyễn Văn Đ tại số B L để làm cơ sở giải quyết theo quy định (BL 585, 589). Ông Nguyễn Thế T là Cán bộ địa chính của UBND Phường 8, được ông Nguyễn Xuân L4, Chủ tịch U, giao nhiệm vụ tham mưu, đề xuất văn bản phúc đáp các yêu cầu xác minh của Thanh tra thành phố V.
Khi nhận nhiệm vụ đề xuất văn bản phúc đáp yêu cầu xác minh của Thanh tra thành phố V, Nguyễn Thế T không chủ trì phối hợp với các cơ quan, ban, ngành kiểm tra, xác minh, đối chiếu để xác định tính đúng đắn, làm rõ những mâu thuẫn về thời gian ghi trong các giấy tờ, tài liệu do Nguyễn Văn Đ cung cấp; không đưa hồ sơ vụ việc ra tập thể UBND Phường có sự tham gia của các ban ngành, tổ dân phố để thu thập thông tin về tình trạng và thời điểm sử dụng đất của Nguyễn Văn Đ để đảm bảo đánh giá, xem xét vụ việc khách quan, toàn diện, đầy đủ mà tự soạn thảo Công văn số 245/UB.ĐCXD ngày 01/12/2009 và Công văn số 30/ĐC-UBND ngày 03/02/2010 với nội dung dựa trên tài liệu, giấy tờ do Nguyễn Văn Đ cung cấp để xác nhận nội dung: xác định Nguyễn Văn Đ mua, sử dụng nhà đất 261B Lê Hồng P vào thời điểm tháng 9 năm 1991 không đúng sự thật để trình Chủ tịch U ký ban hành. Cụ thể:
Công văn số 245/UB.ĐCXD ngày 01/12/2009 xác định: “Diện tích đất 248,28m² + 554,2m² thuộc bản đồ số 5 thửa 372 có nguồn gốc năm 1989 Phường 8 đo đạc lập bản đồ giải thửa thuộc đất Nhà nước chưa sử dụng. Theo sổ đăng ký tạm trú do Công an P3 cấp ngày 27/5/1999, UBND Phường chứng thực sao y ngày 30/11/2009 thì ông Nguyễn Văn Đ cư trú tại 261 Khu B từ năm 1990. Trong diện tích đất này có 1 căn nhà tạm và vườn cây ăn trái, tại thời điểm bắt đầu ông Nguyễn Văn Đ cư trú, trồng cây Phường H chưa xử lý, không có tranh chấp với ai”.
Công văn số 30/ĐC-UBND ngày 03/02/2010 xác định: “Phần diện tích đất 248,28m² và 554,2m², thuộc tờ bản đồ số 5, trong thửa 372 theo đo đạc năm 1989 ký hiệu đất hoang. Trong diện tích 248,28m² có một căn nhà tạm, nguồn
gốc căn nhà này do nhà thầu xây dựng Nhà nghỉ Bộ Đ2 làm để làm mộc xây dựng nhà nghỉ Bộ Đ2 trong năm 1991. Tháng 09 năm 1991 ông Nguyễn Công U thuộc Chủ đầu tư của Nhà nghỉ Bộ Đ2 bán cho ông Nguyễn Văn Đ sử dụng để ở đến nay. Theo Sổ đăng ký tạm trú được U xác nhận sao y thì ông Nguyễn Văn Đ cư trú trong căn nhà 261B Lê Hồng P từ năm 1990 đến nay. Trong khu vực này toàn là dân tạm cư nên không thể lấy ý kiến khu dân cư được. Cho nên chỉ căn cứ vào đo đạc năm 1989, giấy bán thanh lý nhà tạm, sổ đăng ký tạm trú để xác định nguồn gốc đất đai và quá trình sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Đ về căn nhà 261B Lê Hồng P. Về diện tích đất 554,2m² ông Nguyễn Văn Đ sử dụng trồng cây ăn trái. UBND Phường 8 không xác định được thời gian ông Nguyễn Văn Đ bắt đầu sử dụng vào thời gian nào”.
Từ kết quả thanh tra và các Công văn phúc đáp kết quả xác minh số 245/UB.ĐCXD và số 30/ĐC-UBND của U, Thanh tra thành phố V đã ban hành Báo cáo kết quả xác minh đơn số 38/BC-TTr ngày 04 tháng 3 năm 2010 gửi Ủy ban nhân dân thành phố V. Trong đó có nội dung:
“Kết luận:
Diện tích đất 248,28m² bị thu hồi thuộc công trình trụ sở Trung tâm K và Trung tâm phát triển quỹ đất đủ điều kiện được bồi thường về giá trị sử dụng đất (trong đó có 150m² đất ở), đủ điều kiện để được bố trí tái định cư và các khoản hỗ trợ theo quy định...
Đối với diện tích đất 554,2m² bị thu hồi thuộc công trình Khu biệt thự đồi N, thành phố V nằm trong diện tích khoảng 3.000m² do gia đình ông Đ bao chiếm sử dụng thêm ... không đủ điều kiện để được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất.
Kiến nghị:
- + Chấp nhận nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích 248,28m² đất bị thu hồi, giao đất tái định cư và hỗ trợ di dời.
- + Bác nội dung đơn khiếu nại của Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu bồi thường diện tích 554,2m² bị thu hồi thuộc công trình Khu biệt thự đồi N, thành phố V”.
Trên cơ sở tham mưu của Thanh tra thành phố V, ngày 12/3/2010, Chủ tịch UBND thành phố V ban hành Quyết định số 786/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của Nguyễn Văn Đ với nội dung:
“Điều 1. Nay giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn Đ như sau:
- + Chấp nhận nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích 248,28m² đất bị thu hồi, tài sản có trên đất, giao tái định cư và hỗ trợ di dời do Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình Trụ sở Trung tâm K và Trung tâm phát triển quỹ đất, Phường H, thành phố V;
- + Bác nội dung đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu bồi thường diện tích 554,2m² bị thu hồi thuộc công trình Khu biệt thự đồi N, Phường H, thành phố V”.
Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại nêu trên, ngày 19.03.2010, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố V có Báo cáo số 31/BC-BBT gửi Chủ tịch UBND thành phố V, trong đó xác định diện tích đất 248,28m² thu hồi của hộ Nguyễn Văn Đ không đủ điều kiện để bồi thường giá trị quyền sử dụng đất, không đủ điều kiện giao đất tái định cư khi thu hồi đất.
Tuy nhiên, ngày 02/04/2010, Nguyễn Văn Đ tiếp tục làm đơn khiếu nại Quyết định số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của UBND thành phố V về việc ban hành quyết định giải quyết Đơn khiếu nại lần đầu của gia đình Đ với quan điểm là: không đồng ý và chưa đúng, chưa đủ đối với diện tích mà hộ gia đình Đ đang sử dụng thực tế có diện tích là 3.000m² + 554,2m² đã thu hồi, gửi Chủ tịch UBND tỉnh và Chánh Thanh tra tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ngày 07/04/2010, UBND thành phố V tổ chức họp có sự tham gia của các Phòng, Ban, N1 cấp thành phố V để xem xét lại Quyết định 786/QĐ-UBND ngày 12/03/2010. Ngày 05/5/2010, UBND thành phố V ban hành văn bản số 832/UBND-VP về việc chấp thuận tạm ngưng thực hiện Quyết định số 786/QĐ-UBND ngày 12/03/2010, giao trách nhiệm cho Phòng T7 chủ trì, phối hợp với Thanh tra, Văn phòng HĐND và UBND, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng và U nghiên cứu, tham mưu đề xuất UBND thành phố V xem xét giải quyết.
Sau khi nhận Đơn khiếu nại của Nguyễn Văn Đ, ngày 29/04/2010, UBND tỉnh B có Công văn số 2522/UBND-VP giao Chánh Thanh tra tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nghiên cứu nội dung đơn khiếu nại, tổ chức xác minh, đề xuất chủ tịch UBND tỉnh xem xét giải quyết khiếu nại của Nguyễn Văn Đ. Thanh tra tỉnh giao cho P2 Nghiệp vụ 3 do Nguyễn Đức H làm Trưởng Phòng Nghiệp vụ 3 thực hiện.
Ngày 02/6/2010, Nguyễn Đức H chỉ đạo Nguyễn Lê Khánh D, Chuyên viên thuộc Phòng nghiệp vụ 3, mời Nguyễn Văn Đ đến làm việc để ghi nhận lại nội dung khiếu nại. Kết quả làm việc: Nguyễn Văn Đ trình bày lý do tiếp tục khiếu nại lần 2 để yêu cầu đền bù toàn bộ diện tích 1330m² gia đình Đ sử dụng
bị thu hồi để phục vụ Công trình Trung tâm K và Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh (Đ không đồng ý với việc chỉ đền bù giá trị quyền sử dụng đất diện tích 248,28m²) và yêu cầu đền bù giá trị quyền sử dụng đất 554,2m² bị thu hồi để phục vụ dự án Khu biệt thự Đồi Ngọc T1.
Sau đó, Nguyễn Đức H và Nguyễn Lê Khánh D dự thảo văn bản cho ông Nguyễn Huỳnh Đ1, Phó Chánh Thanh tra tỉnh, ký Quyết định số 636/QĐ-TTr ngày 07/6/2010 về việc thành lập Đoàn thanh tra gồm:
- + Nguyễn Đức H, Trưởng phòng nghiệp vụ 3, Trưởng đoàn;
- + Nguyễn Lê Khánh D, Chuyên viên Phòng nghiệp vụ 3, Thành viên;
Nhiệm vụ của Đoàn Thanh tra: Giúp Chánh Thanh tra Tỉnh xác minh, kết luận và kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh giải quyết khiếu nại của Nguyễn Văn Đ.
Quá trình làm việc, Nguyễn Lê Khánh D tiếp nhận “Đơn xin rút lại một phần của nội dung đơn khiếu nại” của Nguyễn Văn Đ đề ngày 15/6/2010 gửi Chánh Thanh tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thể hiện nội dung: “đề nghị xin rút lại nội dung khiếu nại quyết định số 2325 ngày 29/8/2006 của Ủy ban nhân dân thành phố V và nội dung liên quan đến Quyết định số 786 ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V”.
Ngày 16/6/2010, Nguyễn Đức H và Nguyễn Lê Khánh D có Báo cáo kết quả xác minh của Đoàn Thanh tra đối với Đơn khiếu nại của Nguyễn Văn Đ gửi Chánh Thanh tra tỉnh với nhận định: “……… Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch U đã công nhận cho ông Đ quyền sử dụng diện tích 248,28m² đất thu hồi... ông Đ không khiếu nại nội dung này. Do đó, theo quy định pháp luật khiếu nại, tố cáo thì phần nội dung này trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch U có hiệu lực pháp luật. Như vậy, quyết định hành chính số 2225/QĐ-UBND ngày 13/5/2009 của U và Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch U là đúng pháp luật.
Từ đó, H và D đề nghị: “Bác nội dung đơn khiếu nại của Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu bồi thường giá trị quyền sử dụng đất diện tích 554,2m² bị thu hồi thuộc công trình Khu biệt thự Đ3.
Giữ nguyên Quyết định số 2225/QĐ-UBND ngày 13/5/2009 … và Quyết định số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch U về việc giải quyết lần đầu đối với khiếu nại của hộ Nguyễn Văn Đ”.
Ngày 18/6/2010, ông Nguyễn Huỳnh Đ1, Phó Chánh Thanh tra tỉnh, ký văn bản số 672/TTr-NV3 gửi Chủ tịch UBND tỉnh B báo cáo kết quả xác minh
đơn khiếu nại của Nguyễn Văn Đ thể hiện nội dung tương tự như Báo cáo kết quả của Đoàn Thanh tra nêu trên.
Nguyễn Lê Khánh D được giao dự thảo Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 gửi kèm Báo cáo kết quả xác minh khiếu nại của Thanh tra tỉnh để tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh ký ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại. Khi dự thảo Quyết định, Nguyễn Lê Khánh D đã thể hiện nội dung "... Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V đã công nhận cho ông Đ quyền sử dụng diện tích 248,28m² đất thu hồi để xây dựng công trình Trung tâm K và Trung tâm phát triển quỹ đất, việc giải quyết này là có lý có tình. Ông Đ không khiếu nại nội dung này. Do đó, theo quy định pháp luật khiếu nại, tố cáo thì phần nội dung này trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, quyết định hành chính số 2225/QĐ-UBND ngày 13/5/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố V và Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V là đúng pháp luật”.
Phần Quyết định thể hiện nội dung:
“Điều 1: Bác nội dung đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn Đ.
Giữ nguyên Quyết định số 2225/QĐ-UBND ngày 13/5/2009 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Nguyễn Văn Đ do thu hồi đất để đầu tư xây dựng công trình: Đ3, thành phố V và Quyết định số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V về việc giải quyết lần đầu đối với khiếu nại của hộ ông Nguyễn Văn Đ”.
Điều 2: Giao trách nhiệm cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức thực hiện quyết định này”
Khi tiếp nhận Báo cáo xác minh đơn và dự thảo Quyết định giải quyết khiếu nại, ông Nguyễn Thanh L5, Chuyên viên Phòng Pháp chế Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, đã chỉnh sửa nội dung Điều 1 của dự thảo Quyết định như sau:
“Điều 1. Bác nội dung đơn của ông Nguyễn Văn Đ khiếu nại yêu cầu bồi thường giá trị quyền sử dụng diện tích 554,2m² đất cho gia đình Ông.
Công nhận và giữ nguyên Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12 tháng 3 năm 2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V”.
Sau khi chỉnh sửa, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh đã trình ông Trần Ngọc T4, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B, ký ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 1783/QĐ-UBND ngày 28/7/2010.
Sau khi nhận Quyết định 1783/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh B, ngày 04/08/2010, Ủy ban nhân dân thành phố V ban hành văn bản số 1711/UBND-VP giao trách nhiệm cho Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố V tham mưu thực hiện quyết định số 1783/QĐ-UBND của UBND tỉnh.
Ngày 24/09/2010, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng có báo cáo số 127/BC-HĐBT về việc lập phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư; Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T7 lập tờ trình số 13729/TTr-TNMT ngày 08/11/2010 gửi Ủy ban nhân dân thành phố V, về việc phê duyệt kinh phí bồi thường hỗ trợ tái định cư (bổ sung) cho hộ Nguyễn Văn Đ. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân thành phố V đã ban hành các Quyết định số 5222/QĐ-UBND và 5223/QĐ-UBND ngày 11/11/2010 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho hộ Nguyễn Văn Đ - Đỗ Thị X với số tiền 2.427.484.112 đồng. Kết quả Nguyễn Văn Đ đã chiếm đoạt xong số tiền 2.427.484.112 đồng từ ngân sách Nhà nước (BL 1095 đến 1116).
Đồng thời, Ủy ban nhân dân thành phố V đã cấp một lô đất tái định cư có diện tích 108m² tại Phường A, thành phố V. Để được nhận lô đất này, Nguyễn Văn Đ đã phải nộp vào ngân sách Nhà nước tiền sử dụng đất 283.500.000 đồng, tiền lệ phí trước bạ 1.843.000 đồng và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL1052). Ngày 17/3/2011, Nguyễn Văn Đ cùng vợ Đỗ Thị X ký Hợp đồng chuyển nhượng lô đất tái định cư nêu trên cho vợ chồng ông bà Hồ Sỹ T5 - Phạm Thị B với giá 1.290.000.000 đồng. Thủ tục chuyển nhượng đã được Phòng C1 chứng thực; ông Hồ Sỹ T5 đã giao đủ 1.290.000.000 đồng cho Nguyễn Văn Đ và đã nộp 1.843.020 đồng phí trước bạ; Nguyễn Văn Đ đã nộp 7.372.000 đồng thuế thu nhập; hồ sơ chuyển nhượng đã được chuyển đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất TPVT để thực hiện thủ tục sang tên thì bị ngưng giải quyết theo yêu cầu của Cơ quan tiến hành tố tụng (BL1304 đến 1310). Như vậy, Nguyễn Văn Đ đã chiếm đoạt được số tiền là giá trị chuyển nhượng thửa đất được cấp tái định cư trái quy định là 997.285.000 đồng (1.290.000.000 đồng (giá trị chuyển nhượng) - 285.343.000 đồng (tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ) - 7.372.000 đồng (thuế thu nhập)).
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, đủ căn cứ để xác định sai phạm của Nguyễn Đức H và ông Nguyễn Huỳnh Đ1 như sau:
- - Khi được phân công xác minh, kết luận đối với Đơn khiếu nại lần 2 của Nguyễn Văn Đ, Đoàn Thanh tra gồm Nguyễn Đức H và Nguyễn Lê Khánh D đã không thực hiện các việc: yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố V cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại lần đầu; yêu cầu cá nhân, cơ quan tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2005; Điều 4 và khoản 2 Điều 5 của Quy định trách nhiệm xử lý đơn khiếu nại, tố cáo ban hành theo Quyết định số 9668/2003/QĐ-UB ngày 20.10.2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh B R - Vũng Tàu.
- - Khi báo cáo kết luận gửi Chánh Thanh tra tỉnh, Đoàn Thanh tra chỉ dựa trên các chứng cứ là tài liệu, thông tin do Đ cung cấp trong quá trình khiếu nại lần 2; không biết Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V đã ban hành Văn bản số 832/UBND-VP ngày 05/5/2010 chỉ đạo tạm ngưng thực hiện Quyết định số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010.
- - Mặc dù vào ngày 15/6/2010, Nguyễn Văn Đ đã có đơn đề nghị rút một phần nội dung khiếu nại đối với Quyết định giải quyết khiếu nại 786/QĐ-UBND liên quan đến Quyết định đền bù số 2325/QĐ-UBND ngày 29/8/2006 của Ủy ban nhân dân V, nhưng Nguyễn Đức H và Nguyễn Lê Khánh D vẫn báo cáo với Chánh Thanh tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, sau đó tham mưu cho Chánh Thanh tra tỉnh báo cáo kết quả xác minh với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T đó đều xác định: “... Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch U đã công nhận cho ông Đ quyền sử dụng diện tích 248,28m² đất thu hồi... ông Đ không khiếu nại nội dung này. Theo quy định pháp luật khiếu nại, tố cáo thì phần nội dung này trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V có hiệu lực pháp luật”. Từ nhận định và tham mưu nêu trên, khi dự thảo Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B, Đoàn Thanh tra đã tiếp tục nhận định “... Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V đã công nhận cho ông Đ quyền sử dụng diện tích 248,28m² đất thu hồi để xây dựng công trình Trung tâm K và Trung tâm phát triển quỹ đất, việc giải quyết này là có lý có tình. Ông Đ không khiếu nại nội dung này. Do đó, theo quy định pháp luật khiếu nại, tố cáo thì phần nội dung này trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V có hiệu lực pháp luật” để đi đến công nhận cả những nội dung khiếu nại đã được người khiếu nại rút khiếu nại, không còn thuộc thẩm quyền xác minh, tham mưu giải quyết và trên thực tế cũng không xác minh. Nhưng vẫn nhận định rồi tham mưu giải quyết theo hướng “Giữ nguyên ... Quyết
định số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V về việc giải quyết lần đầu đối với khiếu nại của hộ ông Nguyễn Văn Đ”. Từ đó, Ủy ban nhân dân tỉnh B đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 1783/QĐ-UBND ngày 28/7/2010; và Ủy ban nhân dân thành phố V với tư cách được giao tổ chức thực hiện Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 đã ban hành các quyết định về việc bồi thường, cấp đất tái định cư cho Nguyễn Văn Đ trái pháp luật, dẫn đến Đ đã chiếm đoạt được số tiền 3.424.768.112 đồng.
Đối với ông Nguyễn Huỳnh Đ1, với tư cách là Phó Chánh Thanh tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đã ký Báo cáo kết quả xác minh gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Ông Đ1 đã thống nhất với báo cáo kết quả xác minh của Đoàn thanh tra để tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2. Ông Nguyễn Huỳnh Đ1 không phát hiện ra việc H, D chưa thực hiện hết chức trách nhiệm vụ được giao nêu trên nên chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Việc thu giữ vật chứng, kê biên tài sản:
Việc thu giữ vật chứng cũng như kê biên tài sản đã được giải quyết theo vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” đối với Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Lê Khánh D.
Ngày 10/10/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên phạt Nguyễn Văn Đ 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Nguyễn Lê Khánh D 01 năm tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Ngày 16/01/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử theo trình tự phúc thẩm theo kháng cáo của các Bị cáo và tuyên bác kháng cáo của Nguyễn Văn Đ, y án sơ thẩm về hình phạt tù có thời hạn; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lê Khánh D chuyển từ 01 năm tù giam sang 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan đã được xem xét trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xét xử đối với các bị can Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Lê Khánh D.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS-P1 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại khoản 2 Điều 285 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Áp dụng khoản 2 Điều 285 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Nguyễn Đức H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần hình phạt bổ sung, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định.
- Ngày 02/5/2025 bị cáo Nguyễn Đức H làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ, và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, đã đủ căn cứ xác định: Toà sơ thẩm truy tố, xét xử Nguyễn Đức H về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Áp dụng khoản 2 Điều 285 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Và xử phạt: Nguyễn Đức H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, theo các kết luận giám định pháp y mà bị cáo đã cung cấp, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Theo hướng dẫn của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, bị cáo đã có đủ điều kiện để được hưởng án treo. Vì vậy, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của Luật sư, và của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng cuối năm 1995, Nguyễn Văn Đ thuê lại khu lán trại phục vụ công trình xây dựng Nhà nghỉ giáo viên tại đường L nối dài (nay là đường T) của ông Nguyễn Công U và Lê Ngọc L2 với giá 150.000đ/tháng rồi đưa gia đình về ở. Đến ngày 30/9/1999, Nguyễn Văn Đ được ông Nguyễn Công U viết giấy tay bán lại lán trại tại số B L, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 1.200.000 đồng. Trong quá trình sử dụng sau ngày 30/9/1999, Nguyễn Văn Đ đã lấn chiếm diện tích đất xung quanh để trồng cây và xây nhà trong đó có căn nhà xây trái phép trên diện tích 248,28m² là đất Nhà nước quản lý, nhưng chưa sử dụng.
Năm 2005, Nhà nước thu hồi diện tích 248,28m² để xây dựng công trình xây dựng Trung tâm K và Trung tâm Phát triển quỹ đất. Nhà nước đã giải quyết bồi thường vật kiến trúc, hoa màu trên diện tích đất 248,28m² và hỗ trợ di dời cho hộ Nguyễn Văn Đ với số tiền 46.671.686 đồng. Khi nhận tiền bồi thường, Nguyễn Văn Đ cam kết sẽ tự tháo dỡ để trả mặt bằng cho thi công công trình, nhưng sau đó không thực hiện mà viết đơn xin được cấp, mua đất tái định cư. Nhưng không được chấp thuận. Vì vậy, Nguyễn Văn Đ không tháo dỡ nhà, giao trả đất cho Nhà nước mà tiếp tục sử dụng trái phép.
Đến năm 2009, Nhà nước tiếp tục thu hồi diện tích 554,2m² để triển khai xây dựng công trình Khu biệt thự Đồi Ngọc T1, nhưng không đền bù giá trị quyền sử dụng đất vì xác định đây là đất Nhà nước bị Nguyễn Văn Đ lấn chiếm. Nguyễn Văn Đ đã khiếu nại yêu cầu Nhà nước bồi thường giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi là 554,2m². Đồng thời, khiếu nại đòi bồi thường giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi đối với diện tích 248,28m² và đòi cấp đất tái định cư. Trong quá trình khiếu nại, Nguyễn Văn Đ dùng các thủ đoạn gian dối, tạo dựng rồi cung cấp tài liệu, giấy tờ có nội dung sai sự thật về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời gian cư trú, để chứng minh gia đình Đ đã sử dụng diện tích đất tại địa chỉ B, L, Phường H, thành phố V từ trước năm 1993 để được Nhà nước bồi thường quyền sử dụng đất khi thu hồi đất và cấp đất tái định cư.
Khi được giao xác minh, tham mưu giải quyết khiếu nại, bà Đinh Thị T2 (Thanh tra viên) và ông Trần Văn H1 (Chánh Thanh tra thành phố V) chỉ dựa trên căn cứ là xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường H về thời điểm cư trú và quá trình sử dụng đất của Nguyễn Văn Đ để tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố V ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 trong đó chấp nhận khiếu nại và công nhận quyền sử dụng đất đối với 248,28m² đất cho hộ Nguyễn Văn Đ (theo Quyết định bồi thường khi thu hồi đất số 2325/QĐ-UBND) để đền bù giá trị quyền sử dụng đất khi bị thu hồi đất, cấp đất tái định cư; không chấp nhận khiếu nại đối với Quyết
định 2225/QĐ-UBND về việc yêu cầu đền bù khi thu hồi 554,2m² đất. Tuy nhiên, ban bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố V đã có văn bản báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân nhân thành phố V đề nghị xem xét lại nội dung công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 248,28m² cho hộ Nguyễn văn Đông nên việc thi hành Quyết định số 786/QĐ-UBND bị tạm ngưng để thẩm tra lại.
Trong thời điểm đó, Nguyễn Văn Đ đã gửi Đơn khiếu nại lần hai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại số 786/QĐ-UBND nêu trên để yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B công nhận và bồi thường giá trị quyền sử dụng đất khi thu hồi đất đối với cả hai diện tích 248,28m² (Theo Quyết định số 2325/QĐ-UBND) và 554,2m² (Theo Quyết định 2225/QĐ-UBND). Khi được giao xác minh, thẩm tra và tham mưu cho Chánh Thanh tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để báo cáo, đề xuất cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B giải quyết khiếu nại của Nguyễn Văn Đ, Trưởng đoàn Thanh tra Nguyễn Đức H và chuyên viên Nguyễn Lê Khánh D đã không thực hiện các việc: yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố V cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại lần đầu; yêu cầu cá nhân, cơ quan tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2005; Điều 4 và khoản 2 Điều 5 của Quy định trách nhiệm xử lý đơn khiếu nại, tố cáo ban hành theo Quyết định số 9668/2003/QĐ-UB ngày 20/10/2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh B. Khi báo cáo kết quả xác minh gửi Chánh Thanh tra tỉnh, Đoàn Thanh tra chỉ dựa trên các chứng cứ là tài liệu, thông tin do Đ cung cấp kèm theo Đơn khiếu nại lần 2; không xác minh làm rõ những phần quyết định bổ sung mới tại quyết định giải quyết khiếu nại 786 là việc UBND thành phố V chấp nhận bồi thường giá trị quyền sử dụng đất và cấp đất tái định cư cho ông Đ không xác minh nên không thu thập được Văn bản số 832/UBND-VP ngày 05.5.2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V chỉ đạo tạm ngưng thực hiện Quyết định số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010. Hơn nữa, Nguyễn Văn Đ đã có đơn đề nghị rút một phần nội dung khiếu nại đối với phần yêu cầu bồi thường thêm diện tích đất tại Quyết định giải quyết khiếu nại 786/QĐ-UBND liên quan đến Quyết định đền bù số 2325/QĐ-UBND ngày 29/8/2006 của Ủy ban nhân dân thành phố V, nhưng Nguyễn Đức H và Nguyễn Lê Khánh D vẫn báo cáo với Chánh Thanh tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, sau đó tham mưu cho Chánh Thanh tra tỉnh báo cáo kết quả xác minh với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T đó đều xác định: “... quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V có hiệu lực pháp luật” để đi đến công nhận cả những nội dung mới như phân tích trên (phần Đông không khiếu nại) tại quyết định 786. Tại dự thảo Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 ghi “... Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-
UBND ngày 12.3.2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V đã công nhận cho ông Đ quyền sử dụng diện tích 248,28m² đất thu hồi để xây dựng công trình Trung tâm K và Trung tâm phát triển quỹ đất, việc giải quyết này là có lý có tình. Ông Đ không khiếu nại nội dung này. Do đó, theo quy định pháp luật khiếu nại, tố cáo thì phần nội dung này trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 786/QĐ-UBND ngày 12.3.2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V có hiệu lực pháp luật”; và tham mưu giải quyết theo hướng “Giữ nguyên ... Quyết định số 786/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V về việc giải quyết lần đầu đối với khiếu nại của hộ ông Nguyễn Văn Đ”. Từ đó, Ủy ban nhân dân thành phố V, với tư cách được giao tổ chức thực hiện Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 1783/QĐ-UBND ngày 28.7.2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh B, đã thực hiện việc bồi thường, cấp đất tái định cư cho Nguyễn Văn Đ gây thiệt hại cho nhà nước dẫn đến Đ đã chiếm đoạt được số tiền 3.424.768.112 đồng của Ngân sách Nhà nước.
Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Đức H đủ yếu tố cấu thành về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại khoản 2 Điều 285 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) như Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, gây mất lòng tin của nhân dân đối với cơ quan, tổ chức, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người được giao chức trách, nhiệm vụ, nhưng đã không làm hết chức trách của mình được giao để xảy ra hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại lớn đến tài sản nhà nước. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm để xử phạt bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo H xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết cho bị cáo như: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, quá trình công tác đã có nhiều thành tích, chiến sỹ thi đua và được tặng bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh B, thời gian trước và sau khi phạm tội bị cáo bị bắt buộc đưa đi chữa bệnh tâm thần nên bị hạn chế năng lực nhận thức nên áp dụng điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hiện tại, bị cáo sức
khỏe yếu là vẫn điều trị ngoại trú về bệnh tâm thần. Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 xem xét xử bị cáo dưới khung hình phạt cũng đảm bảo tính nghiêm khắc của pháp luật.
Nên mức án 01 năm 03 tháng tù mà Toà sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo. Nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ gì mới. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 31/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên xử:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng".
Áp dụng khoản 2 Điều 285 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Nguyễn Đức H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ trong thời hạn 03 (ba) năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù trên.
3/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |
Bản án số 640/2024/HSPT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng)
- Số bản án: 640/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
