|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 540/2024/HS-PT Ngày 08 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Thúy Hồng. |
| Các thẩm phán: | Ông Lê Hoàng Tấn. |
| Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 345/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Văn C và đồng phạm do các bị cáo và người bị hại có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Huỳnh Văn C, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1982 tại tỉnh Cà Mau; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi thường trú: Khóm A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 0/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tiền án, tiền sự: Không; họ tên cha: Huỳnh Văn P, sinh năm 1950; họ tên mẹ: Nguyễn Thị N (đã chết); gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình và chưa có vợ, con. Nhân thân: Ngày 23/11/2011, Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 22/02/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/6/2014. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Hải Â, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2003 tại tỉnh Cà Mau; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; tiền án, tiền sự: Không; họ tên cha: Nguyễn Văn C1 (đã chết); họ tên mẹ: Lê Thị M, sinh năm 1966; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út trong gia đình và chưa có vợ, con. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Mai Vũ L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1999 tại tỉnh Bạc Liêu; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi thường trú: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; nơi ở hiện nay: Khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 7/12; nghề nghiệp: Công nhân; tiền án, tiền sự: Không; họ tên cha: Mai Văn T, sinh năm 1976; họ tên mẹ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1980; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình chưa có vợ do chưa đăng ký kết hôn, có 02 con. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Văn C: Luật sư Nguyễn Văn Đ – Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho các bị cáo Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L: Luật sư Lê Mạnh C2 – Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
Bị hại có kháng cáo: Bà Trần Thị N2 và anh Đặng Công H, đều vắng mặt.
(Ngoài ra còn có bị cáo Lê Quang T1 không kháng cáo, không bị kháng nghị).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 21/10/2022, Lê Quang T1, Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L và đối tượng tên N3 (chưa rõ lai lịch) tổ chức uống rượu tại phòng trọ của Mai Vũ L thuộc ấp E, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô đi về nhà, khi đến đoạn đường D9 giao nhau với đường N1 khu dân cư HUD thuộc ấp E, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì gặp ông Đặng Công H1, sinh năm 1978, ngụ tại ấp E, xã L, huyện N là nhân viên bảo vệ khu dân cư HUD điều khiển xe mô tô biển số 60S7-6547 đi tuần tra. Ông H1 nhìn thấy T1 chạy xe lạng lách trong khu dân cư, nên anh H1 điều khiển xe mô tô vượt lên cầm cây gậy bằng gỗ chặn T1 lại để nhắc nhở nên giữa ông H1 và T1 xảy ra cự cải.
Sau đó T1 quay lại phòng trọ của L gặp C, Â, L, N3 và nói “Có thằng nào chặn đường em, các anh ra đánh dằn mặt dùm em cái” thì cả nhóm đều đồng ý. Lúc này, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 98H5-0261 chở Â; T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 60L7-6916 đi một mình; Nhẹ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave (không rõ biển số) chở L đi tìm anh H1 để đánh.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của T1 đến khu dân cư HUD, ấp E, xã L, huyện N thì thấy ông H1 cùng vợ là bà Trần Thị N2 và con ông H1 là anh Đặng Công H, sinh năm 2006 đang đứng tại ngã 4 đường N giao với đường D. T1 xuống xe chỉ tay vào anh H nói “Thằng này nè”, rồi T1 lao đến dùng hai tay đánh nhiều cái vào mặt anh H, C cũng lao đến dùng tay đánh nhiều cái vào mặt và đầu anh H, anh H chống đỡ và dùng tay kẹp cổ C thì L dùng 01 cây gậy bằng gỗ dài khoảng 02 mét, đường kính 06cm nhặt ở vệ đường đập 01 cái vào đầu của anh H và N3 dùng mũ bảo hiểm màu đỏ đánh nhiều cái vào đầu anh H, làm cho anh H bị té ngã xuống đất. Khi nhìn thấy anh H bị đánh, ông H1 cầm cây gậy gỗ dài khoảng 1,5 mét, đường kính 06cm (mang theo khi đi tuần) và bà N2 chạy đến can ngăn thì T1 dùng tay và Â cầm nón bảo hiểm đánh vào người ông H1, còn C giật cây gậy bằng gỗ trên tay ông H1 đánh nhiều cái vào người và tay bà N2.
Bảo vệ khu dân cư HUD và người dân phát hiện chạy đến can ngăn. Nên nhóm của T1 bỏ chạy, để lại hiện trường 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 98H5-0261 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 60L7-6916 cùng 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu đỏ. Sau đó bà N2 và anh H được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 23 tháng 10 năm 2022, gia đình ông H1 đến Cơ quan Công an trình báo sự việc và có đơn yêu cầu khởi tố. Ngày 28 tháng 4 năm 2023, T1, C, Â đến Cơ quan Công an đầu thú. Đến ngày 30 tháng 8 năm 2023, L đến Cơ quan Công an đầu thú. Tại Cơ quan điều tra T1, C, Â, L khai nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô của C nhãn hiệu Dream, biển số 98H5-0261; 01 xe mô tô của T1 nhãn hiệu Wave, biển số 60L7-6916; 01 điện thoại của L nhãn hiệu Oppo màu đỏ. Riêng đối với các hung khí là gậy và mũ bảo hiểm sau khi gây án xong, nhóm của T1 vứt bỏ tại đoạn đường H, thuộc khu dân cư H, ấp E, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 1326/TgT/2022 ngày 02/12/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích của bà Trần Thị N2 như sau: Gãy xương 1 bàn tay phải; Gãy đốt 1 ngón 5 bàn tay trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của chị Trần Thị N2: 08% (T2 phần trăm); Vật gây thương tích: Vật tày.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 1325/TgT/2022 ngày 09/12/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích của anh Đặng Công H như sau: Tụ máu dưới màng cứng đã điều trị khỏi không còn hình ảnh máu tụ; T3 máu ngoài màng cứng đã điều trị khỏi không còn hình ảnh máu tụ. Tổn thương não kích thước 1,6 x 3,8 cm. Khuyết sọ đáy cứng kích thước 05 x 5,3 cm. Tổn thương nứt sọ thái dương trái kích thước 2,8 cm, điện não đồ không có ổ tổn thương tương ứng. Tổn thương nứt sọ đỉnh trái kích thước 04 cm, điện não đồ không có ổ tổn thương tương ứng. Tổn thương nứt sọ đỉnh phải kích thước 05 cm, điện não đồ không có ổ tổn thương tương ứng. Sẹo mổ sọ não vùng trán thái dương trái (bán cầu trái) kích thước 20 x 0,3 cm. Sẹo mổ dẫn lưu vùng đỉnh trái kích thước 01 x 0,5 cm. Sẹo vùng gò má phải kích thước 1,5 x 0,3 cm. Sẹo khuỷu phải kích thước 02 x 1,5 cm. Vết biến đổi sắc tố da khuỷu phải. Sẹo vùng gối phải kích thước 03 x 1,5 cm. Sẹo vùng gối phải kích thước 02 x 1,5 cm. Sẹo vùng gối phải kích thước 01 x 01 cm. Sẹo vùng gối phải kích thước 1,5 x 01 cm. Sẹo vùng gối trái kích thước 1,5 x 01 cm. Sẹo vùng gối trái kích thước 01 x 01 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Đặng Công H: 68% (Sáu mươi tám phần trăm). Vật gây thương tích: Vật tày.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đặng Công H và bà Trần Thị N2 yêu cầu Lê Quang T1, Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải  mỗi bị cáo bồi thường số tiền 15.000.0000 đồng chi phí thuốc men, khám chữa bệnh. Gia đình bị cáo Mai Vũ L đã bồi thường 6.000.000 đồng, gia đình bị cáo Mai Vũ L đã bồi thường 5.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS-P2 ngày 15/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lê Quang T1, Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 và điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Riêng đối với đối tượng N3 hiện bỏ trốn, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”.
-
Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123, Điều 15, điểm a, i khoản 1 Điều 134 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn C 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người” và 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo C phải chấp hành là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 4 năm 2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải  10 (mười) năm tù về tội “Giết người” và 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo  phải chấp hành là 10 (mười) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 4 năm 2023.
- Xử phạt bị cáo Mai Vũ L 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người” và 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo L phải chấp hành là 12 (mười hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2023.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn Quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Lê Quang T1; về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/3/2024, bị hại Đặng Công H và bị hại Trần Thị N2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Mai Vũ L.
Ngày 21/3/2024, bị cáo Mai Vũ L có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 25/3/2024, bị cáo Nguyễn Hải  có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 02/4/2024, bị cáo Huỳnh Văn C có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên. Các bị cáo chỉ xin được giảm nhẹ một phần hình phạt, để bị cáo để có cơ hội trở về sum hợp với gia đình làm lại cuộc đời.
- Bị hại Trần Thị N2 và Đặng Công H kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo Mai Vũ L nhưng vắng mặt.
-
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Xét thấy Bản án sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo phạm tội “Giết người” với hai tình tiết định khung được quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và phạm tội “Cố ý gây thương tích” với hai tình tiết định khung theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và quyết định mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn C có ý kiến: Bị cáo tham gia với vai trò giúp sức giản đơn. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Đối với bị hại H bị thương tích 68% và bị hại N2 bị thương tích 8%. Nhưng mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo C là quá nghiêm khắc. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả cho phía bị hại nên kính mong Hội đồng xét xử xác minh lại vấn đề này để bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới tại điểm b, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Và đồng thời xác minh lại nhân thân của bị cáo có con còn nhỏ. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
-
Luật sư bào chữa cho các bị cáo Mai Vũ L, Nguyễn Hải  có ý kiến: Tôi đồng ý về phần tội danh mà Bản án sơ thẩm đã tuyên xử đối với hai bị cáo. Nhưng trên thực tế bị cáo H bị thương tích 68% và bị cáo N2 bị thương tích 8% nhưng Bản án sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo quá nghiêm khắc.
Sau khi phạm tội các bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú, thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo L và gia đình bị cáo  có công với cách mạng; gia đình bị cáo L, bị cáo  cũng đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại. Sau khi xét xử sơ thẩm bị hại có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cân nhắc, khoan hồng cho các bị cáo L và bị cáo Â, sửa Bản án sơ thẩm giảm một phần hình phạt để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Đơn kháng của bị hại Đặng Công H và bị hại Trần Thị N2; đơn kháng cáo của các bị cáo Mai Vũ L, Nguyễn Hải Â, Huỳnh Văn C làm trong thời hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
-
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21/10/2022, do bực tức khi bị ông Đặng Công H1 nhắc nhở Lê Quang T1 điều khiển xe mô tô lạng lách trong khu dân cư T1 rủ Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L, đối tượng N3 (chưa rõ lai lịch) đi tìm ông H1 để đánh. Khi T1 và cả nhóm nhìn thấy ông H1 cùng với vợ là bà Trần Thị N2 và con là anh Đặng Công H sinh năm 2006 thì nhóm của T1 xông đến dùng hai tay đánh nhiều cái vào mặt anh H, C dùng tay đánh nhiều cái vào mặt và đầu anh H; L dùng 01 cây gậy bằng gỗ dài khoảng 02 mét, đường kính 06cm đánh vào đầu của anh H, N3 cầm mũ bảo hiểm đánh nhiều cái vào đầu của anh H. Làm cho Đặng Công H bị chấn thương sọ não, tổn thương cơ thể với tỷ lệ là: 68% (Sáu mươi tám phần trăm), việc Đặng Công H không chết là được can ngăn, cấp cứu kịp thời nằm ngoài ý thức chủ quan của các bị cáo. Ngoài ra, bà Trần Thị N2 bị C cầm cây bằng gỗ đánh nhiều cái vào cơ thể của bà N2, làm cho bà N2 bị gãy xương bàn tay, tổn thương cơ thể với tỷ lệ là: 08% (tám phần trăm).
Do đó, Bản án tuyên bố các bị cáo Lê Quang T1, Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L phạm tội “Giết người” và phạm tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 và điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
-
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện bản tính côn đồ, hung hãn, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm để giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo C như bị cáo tự nguyện ra đầu thú, khẩn khai báo ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo  và bị cáo L như: Tự nguyện ra đầu thú, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; gia đình bị cáo L có bà nội là Trần Thị D có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hải  dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng Bản án sơ thẩm không áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự là thiếu sót nên cần phải bổ sung cho đúng quy định của pháp luật.
Xét các bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, do đó cần áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo C đề nghị xem xét về việc gia đình bị cáo C đã bồi thường khắc phục hậu quả cho phía bị hại, ngoài ra cũng cần xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo có con còn nhỏ. Do đó, đề nghị cho bị cáo C được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới tại điểm b khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh về việc nộp tiền bồi thường cho bị hại; về hoàn cảnh gia đình của bị cáo có con còn nhỏ. Nên không có căn cứ để chấp nhận lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo C.
Mặc dù, tại phiên tòa phúc phẩm các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không có tình tiết giảm nhẹ mới, nhưng xét mức hình phạt mà Bản án sơ thẩm tuyên xử đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc. Ngoài ra, người bị hại bà Trần Thị N2 và anh Đặng Công H có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo L. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo và lời đề nghị của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo. Giảm một phần hình phạt cho các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L cũng đủ thời gian để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và cũng đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Lê Quang T1; về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về lãi suất chậm thi hành án; về án phí sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận kháng cáo của bị hại bà Trần Thị N2 và anh Đặng Công H;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L.
-
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L:
- Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ Luân p các tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”.
-
Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123, điểm a, i khoản 1 Điều 134 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn C 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người” và 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Huỳnh Văn C chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 28 tháng 4 năm 2023.
-
Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123, điểm a, i khoản 1 Điều 134 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải  09 (chín) năm tù về tội “Giết người” và 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Hải  chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 28 tháng 4 năm 2023.
-
Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123, điểm a, i khoản 1 Điều 134 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Mai Vũ L 11 (mười một) năm tù về tội “Giết người” và 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Mai Vũ L chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 11 (mười một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 30 tháng 8 năm 2023.
- Các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Lê Quang T1; về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về lãi suất chậm thi hành án; về án phí sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |
Bản án số 540/2024/HS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội "giết người" và "cố ý gây thương tích"
- Số bản án: 540/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Giết người" và "Cố ý gây thương tích"
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Hải Â, Mai Vũ L
