Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án sơ: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31/5/2024

Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Cao Thị Mỹ Phương
  2. Ông Nguyễn Thành Nhạn

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2024/TLST-HN ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ái C, sinh năm 1997 (có yêu cầu vắng mặt)

Trú tại: Ấp T, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu

Bị đơn: Anh Bùi Như T, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Trú tại: Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Lê Thị Ái C và anh Bùi Như T chung sống vào năm 2018, có đăng ký kết hôn ngày 21/02/2018 tại UBND phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.

Nguyên nhân ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cự cãi và xích mích dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn, cả hai người không giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ, mỗi người sống cho riêng mình, không ai quan tâm đến ai.

Xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị Ái C yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Bùi Như S sinh ngày 11/7/2018 hiện nay đang sống cùng với anh Bùi Như T, chị Lê Thị Ái C đồng ý để anh Bùi Như T tiếp tục nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Ái C và anh Bùi Như T không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Anh Bùi Như T vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, nên không ghi nhận được ý kiến của anh T đối với yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Ái C.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Lê Thị Ái C được ly hôn anh Bùi Như T.

Về con chung: Giao con chung là Bùi Như S sinh ngày 11/7/2018 cho anh Bùi Như T tiếp tục nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng cho con do anh Bùi Như T không yêu cầu, chị Lê Thị Ái C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G.

Chị Lê Thị Ái C có đơn đề nghị xử vắng mặt, anh Bùi Như T được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ái C và anh Bùi Như T chung sống vào năm 2018, có đăng ký kết hôn ngày 21/02/2018 tại UBND phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.

Nguyên nhân ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cự cãi và xích mích dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nhiều, cả hai người không giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ, mỗi người sống cho riêng mình, không ai quan tâm đến ai là vi phạm Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, căn cứ vào biên bản làm việc ngày 06/5/2024 cho thấy, anh Bùi Như T có địa chỉ cư trú tại: Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Xét thấy, hôn nhân của chị C và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị Ái C yêu cầu ly hôn là phù hợp, căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lê Thị Ái C ly hôn anh Bùi Như T.

[3] Về con chung: Qua làm việc với chị Lê Thị Ái C thì cháu Bùi Như S hiện đang sống cung với anh Bùi Như T, chị Lê Thị Ái C cũng đồng ý để anh T nuôi con và không có yêu cầu nuôi con. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia và gia đình có căn cứ giao con cho anh Bùi Như T tiếp tục nuôi. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết; chị Lê Thị Ái C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Ái C không yêu cầu, anh Bùi Như T vắng mặt, không ghi nhận được ý kiến nên không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH chị Lê Thị Ái C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

    Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

    Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  2. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Ái C ly hôn anh Bùi Như T.
  3. Về con chung: Giao con chung là Bùi Như S cho anh Bùi Như T tiếp tục chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Bùi Như T không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết; chị Lê Thị Ái C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Lê Thị Ái C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 300.000 đồng, chị Lê Thị Ái C đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền: 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008691 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G được chuyển thu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã G;
  • - Chi cục THADS thị xã G;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - UBND phường H;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tất Liệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cơ - Tính
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger