TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 54/2024/DS-ST Ngày: 30/7/2024 “V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Kình
- Bà Phan Thị Nga
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án quận Hoàn Kiếm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 104/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” - theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 54A/2024/QĐST-DS ngày 12/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2024/QĐST-DS ngày 11/7/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K1 (viết tắt là T3); địa chỉ: Số F Q, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị N - Giám đốc xử lý nợ.
Bà N ủy quyền tham gia tố tụng cho: Bà Lê Thị H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị Thu T và bà Hoàng Thị Thanh T1 - là nhân viên xử lý nợ của Ngân hàng T3.
(Theo Giấy ủy quyền số 267-03/2024/UQ-TCB ngày 19/4/2024).
(Bà T - Có mặt).
* Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967
Cùng hộ khẩu thường trú: Số B H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
(Bà H1 - Có mặt. Ông Đ - Vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH V (viết tắt là Công ty V) địa chỉ: Tầng B, G L và D L, Phường B, Quận I, TP Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Mỹ H2 - Giám đốc.
(Vắng mặt)
- Công ty Cổ phần Đ2 (viết tắt là Công ty Đ2); địa chỉ: Số B N, phường L, Thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Anh T2 - Giám đốc.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 22/03/2024 và quá trình giải quyết vụ án - người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
- Ngày 18/01/2017 Ngân hàng TMCP K1 (Viết tắt là T3) cùng bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ đã ký kết Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD cùng Khế ước nhận nợ số TTC20170353 01 ngày 24/01/2017, với nội dung như sau:
Số tiền nhận nợ: 984.249.139 đồng;
Mục đích vay: mua nhà dự án Vinpearl Condotel Đ căn số VRC-07-12;
Thời hạn vay: 180 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay lần đầu tiên;
Ngày giải ngân: 24/01/2017.
Lãi suất vay: chia thành các giai đoạn cụ thể như sau:
+ Đối với giai đoạn 1: Áp dụng Lãi suất cố định 9.99%/năm từ ngày nhận nợ (24/01/2017) đến hết 36 tháng kể từ ngày nhận nợ;
+ Đối với giai đoạn 2: Áp dụng lãi suất thả nổi kể từ ngày sau ngày kết thúc giai đoạn 1 đến ngày đến hạn trả nợ cuối cùng, trong đó lãi suất vay được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng và bằng Lãi suất cơ sở Bất động sản vingroup dài hạn (+) Biên độ 3.99%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được T3 quy định theo từng thời kỳ, tương ứng với từng đối tượng khách hàng.
- Ngày 11/6/2018 T3 cùng bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ đã ký kết Hợp đồng tín dụng số HSO201853218495/HĐTD cùng Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/01 ngày 18/7/2018 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/HĐTD/PL01 ngày 06/7/2020, với nội dung như sau:
Số tiền nhận nợ: 802.291.794 đồng;
Mục đích vay: mua nhà dự án Panorama Nha Trang căn số B;
Thời hạn vay: 114 tháng kể từ ngày nhận nợ;
Ngày giải ngân (ngày nhận nợ): 18/7/2018.
Lãi suất vay:
+ Đối với giai đoạn 1: Áp dụng Lãi suất cố định 8.0%/năm từ ngày nhận nợ (18/7/2018) đến ngày 01/12/2018;
+ Đối với giai đoạn 2: Áp dụng Lãi suất cố định 8.0%/năm kể từ sau ngày kết thúc giai đoạn 1 đến hết 6 tháng kể từ ngày nhận nợ;
+ Đối với giai đoạn 3: Áp dụng lãi suất thả nổi kể từ ngày sau ngày kết thúc giai đoạn 2 đến ngày hết hạn trả nợ cuối cùng, trong đó lãi suất vay được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng và bằng Lãi suất cơ sở Bất động sản dài hạn (+) Biên độ 4.29%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được T3 quy định theo từng thời kỳ, tương ứng với từng đối tượng khách hàng.
- Ngày 21/01/2020 T3 cùng bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ đã ký kết Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTD cùng Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO202071279851/01 ngày 21/01/2020 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO202071279851/HĐTD/PL02 ngày 06/7/2020, với nội dung như sau:
Số tiền nhận nợ: 486.237.451 đồng;
Mục đích vay: mua nhà dự án Panorama Nha Trang căn số B;
Thời hạn vay: 144 tháng kể từ ngày nhận nợ;
Ngày giải ngân: 27/02/2020.
Lãi suất vay: lãi suất thả nổi như sau:
+ Lãi suất vay áp dụng trong thời gian 12 tháng kể từ ngày nhận nợ là: 8.49%/năm;
+ Lãi suất áp dụng đối với khoản vay của Bên Vay cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng và bằng Lãi suất cơ sở Bất động sản dài hạn (+) Biên độ 4.29%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được T3 quy định theo từng thời kỳ, tương ứng với từng đối tượng khách hàng.
Tài sản bảo đảm:
Tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ tín dụng và các nghĩa vụ khác của bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ tại T3, gồm:
Căn hộ số 12 tại tầng 7, cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ thuộc Nhà chung cư tại Dự án Tổ hợp khách sạn, Trung tâm thương mại R, có địa chỉ tại đường N, phường A, quận S, Thành phố Đà Nẵng (đã được điều chỉnh thành căn hộ số VRC-07-12 tại tầng 7 thuộc Tòa nhà có địa chỉ số C T, phương A, quận S, Thành phố Đà Nẵng thuộc Dự án theo Phụ lục 09). Hợp đồng mua bán căn hộ số VRC-07-12/CONDOTEL. ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 giữa Công ty TNHH V và bà Nguyễn Thị H1 cùng các Phụ lục sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của Hợp đồng mua bán căn hộ số VRC-07-12/CONDOTEL.ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016. Hợp đồng thế chấp công chứng số 730 ngày 21/01/2017. Tài sản thế chấp trên đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật ngày 24/01/2017, mã số đơn 1239298370 tại Cục Đ3.
Căn hộ số B32-17 tại tầng 32 tháp B cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ, tại dự án Panorama N, địa chỉ số B đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hợp đồng mua bán căn hộ số B32-17/HĐMB/PANORAMA NHA TRANG ngày 19/4/2017 giữa Công ty Cổ phần Đ2 và bà Nguyễn Thị H1. Hợp đồng thế chấp công chứng số 1783/2018- Quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/6/2018. Tài sản thế chấp trên đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật ngày 18/7/2018, mã số đơn 1294344363 tại Cục Đ3.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ đã trả được cho T3 tổng số tiền là 1.960.319.295 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 823.939.226 đồng, số tiền nợ lãi là 1.137.091.961 đồng. Sau đó, ông Đ bà H1 không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong các Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ.
Tạm tính đến ngày 20/5/2024, dư nợ tạm tính của bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ tại T3 như sau:
- Dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD cùng Khế ước nhận nợ số TTC20170353 01 ngày 24/01/2017 tổng số tiền là 625.691.181 đồng, trong đó: nợ gốc là 605.689.139 đồng, nợ lãi là 20.002.042 đồng.
- Dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số HSO201853218495/HĐTD cùng đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/01 ngày 18/7/2018 và Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTD cùng đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO202071279851/01 ngày 21/01/2020 cùng thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/HĐTD/PL01 ngày 06/7/2020, với tổng số tiền là 786.472.984 đồng, trong đó nợ gốc là 780.268.045 đồng, nợ lãi là 6.204.939 đồng.
Tổng dư nợ của hai Hợp đồng là 1.412.164.165 đồng, trong đó: tổng số tiền nợ gốc là 1.385.957.184 đồng; tổng số tiền nợ lãi là 26.206.981 đồng.
Nay, do bà H1, ông Đ không thực hiện trả nợ theo đúng cam kết trong các Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, T3 đã làm đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán trả Ngân hàng T3 tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/5/2024 là 1.412.164.165 đồng, trong đó:
+ Nợ gốc là 1.385.957.184 đồng;
+ Nợ lãi là 26.206.981 đồng;
- Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ phải trả các khoản nợ lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 21/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Kể từ ngày Q định/bản án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì T3 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho T3, tài sản bảo đảm là:
- Căn hộ số 12 tại tầng G, cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ thuộc Nhà chung cư tại Dự án Tổ hợp khách sạn, Trung tâm thương mại R, có địa chỉ tại đường N, phường A, quận S, Thành phố Đà Nẵng (đã được điều chỉnh thành căn hộ số VRC-07-12 tại tầng 7 thuộc Tòa nhà có địa chỉ số C T, phương A, quận S, Thành phố Đà Nẵng thuộc Dự án theo Phụ lục 09). Hợp đồng mua bán căn hộ số VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 giữa Công ty TNHH V và bà Nguyễn Thị H1 cùng các Phụ lục sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của Hợp đồng mua bán căn hộ số: VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016. Hợp đồng thế chấp số công chứng 730 ngày 21/01/2017. Tài sản thế chấp trên đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật ngày 24/01/2017, mã số đơn: 1239298370 tại Cục Đ3.
- Căn hộ số B32-17 tại tầng 32 tháp B cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ, tại dự án Panorama N, địa chỉ số B đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hợp đồng mua bán căn hộ số B32-17/HĐMB/PANORAMA NHA TRANG ngày 19/4/2017 giữa Công ty Cổ phần Đ2 và bà Nguyễn Thị H1. Hợp đồng thế chấp số công chứng 1783/2018- Quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/6/2018. Tài sản thế chấp trên đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật ngày 18/7/2018, mã số đơn: 1294344363 tại Cục Đ3.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ đối với T3. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho T3.
- Đối với số tiền phạt vi phạm Hợp đồng là 140.570.606 đồng, ngày 26/4/2024 T3 đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt vi phạm và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn - Bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
- Bà xác nhận ngày 18/01/2017 bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ cùng Ngân hàng T3 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD cùng Khế ước nhận nợ số TTC2017035/01 ngày 24/01/2017, với nội dung như sau:
Số tiền nhận nợ là 984.249.139 đồng;
Mục đích vay: mua nhà dự án Vinpearl Condotel Đ căn số VRC-07-12; thời hạn vay: 180 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay lần đầu tiên; ngày giải ngân: 24/01/2017; lãi suất vay: chia thành các giai đoạn cụ thể như sau:
+ Đối với giai đoạn 1: Áp dụng Lãi suất cố định 9.99%/năm từ ngày nhận nợ (24/01/2017) đến hết 36 tháng kể từ ngày nhận nợ;
+ Đối với giai đoạn 2: Áp dụng lãi suất thả nổi kể từ ngày sau ngày kết thúc giai đoạn 1 đến ngày đến hạn trả nợ cuối cùng, trong đó lãi suất vay được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng và bằng Lãi suất cơ sở Bất động sản vingroup dài hạn (+) Biên độ 3.99%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được T3 quy định theo từng thời kỳ, tương ứng với từng đối tượng khách hàng.
- Ngày 11/6/2018 bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ cùng Ngân hàng T3 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số HSO201853218495/HĐTD cùng đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/01 ngày 18/7/2018 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/HĐTD/PL01 ngày 06/7/2020 với nội dung như sau:
Số tiền nhận nợ: 802.291.794 đồng; mục đích vay: mua nhà dự án Panorama Nha Trang căn số B; thời hạn vay: 114 tháng kể từ ngày nhận nợ; ngày giải ngân (ngày nhận nợ): 18/7/2018; lãi suất vay: được quy định cụ thể trong Hợp đồng và Khế ước nhận nợ.
- Ngày 21/01/2020 bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ cùng Ngân hàng T3 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTD cùng đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số HSO202071279851/01 ngày 21/1/2020 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO202071279851/HĐTD/PL02 ngày 06/7/2020, với nội dung như sau:
Số tiền nhận nợ: 486.237.451 đồng; Mục đích vay: mua nhà dự án Panorama N căn số B; thời hạn vay 144 tháng kể từ ngày nhận nợ; ngày giải ngân 27/02/2020; lãi suất vay: được quy định cụ thể trong Hợp đồng và Khế ước nhận nợ.
Tài sản bảo đảm:
Tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ tín dụng và các nghĩa vụ khác của bà và ông Đ tại T3, gồm:
Căn hộ số 12 tại tầng 7, tại Trung tâm thương mại R, có địa chỉ tại đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (nay là căn hộ số VRC-07-12 tại tầng 7 thuộc Tòa nhà có địa chỉ số C T, phương A, quận S, thành phố Đà Nẵng). Hợp đồng mua bán căn hộ ký ngày 27/12/2016 giữa Công ty V và bà cùng các Phụ lục sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của Hợp đồng mua bán căn hộ ngày 27/12/2016. Hợp đồng thế chấp số công chứng 730 ngày 21/01/2017. Tài sản thế chấp trên đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật ngày 24/01/2017 tại Cục Đ3.
Căn hộ số B32-17 tại tầng 32 tháp B, tại dự án Panorama N, địa chỉ số B đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hợp đồng mua bán căn hộ ký ngày 19/4/2017 giữa Công ty Đ2 và bà. Hợp đồng thế chấp số công chứng 1783/2018 ngày 29/6/2018. Tài sản thế chấp trên đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật ngày 18/7/2018 tại Cục Đ3.
Quá trình thực hiện Hợp đồng:
Tính đến ngày 17/6/2024, vợ chồng bà đã trả được cho T3 tổng số tiền là 2.319.960.219 đồng, trong đó số tiền nợ gốc đã trả là 1.003.069.000 đồng, số tiền lãi đã trả là 1.316.891.219 đồng như Ngân hàng trình bày là đúng. Sau đó, do dịch C nên kinh tế gia đình khó khăn và C1 đầu tư không trả tiền nên vợ chồng bà đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng cùng các Khế ước nhận nợ đã ký kết giữa hai bên.
Tạm tính đến ngày 20/5/2024 vợ chồng bà còn nợ Ngân hàng T3 là 1.412.164.165 đồng (một tỷ, ba trăm linh sáu triệu, năm trăm linh tư nghìn, bốn trăm mười hai đồng), trong đó: nợ gốc là 1.385.957.184 đồng; lãi trong hạn là 26.206.981 đồng như Ngân hàng trình bày là đúng.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T3, bà có nguyện vọng trả nợ theo lộ trình sau:
- Đối với Hợp đồng tín dụng ngày 11/6/2018 và Hợp đồng tín dụng ngày 21/01/2020:
- Chậm nhất đến ngày 31/8/2024: Vợ chồng bà thanh toán 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) cho Ngân hàng;
- Chậm nhất đến ngày 30/11/2024: Vợ chồng bà thanh toán toàn bộ số tiền còn lại + lãi phát sinh của 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên cho Ngân hàng.
- Đối với Hợp đồng tín dụng ngày 18/1/2017: thanh toán số tiền gốc + lãi theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký định kỳ 6 tháng/lần vào các ngày 26/7 và 26/1 hàng năm cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Việc hạch toán thu nợ được thực hiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, K ước nhận nợ và điều kiện, điều khoản chung về tín dụng đã ký.
Nếu Ngân hàng chấp nhận phương án trả nợ của bà đưa ra thì bà đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận giữa vợ chồng bà với Ngân hàng.
Ngoài ra, bà H1 không trình bày gì thêm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH V (Công ty V) có văn bản gửi Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm và trình bày như sau:
- Về thông tin thanh toán tiền mua Căn Hộ
Theo quy định tại Khoản 3.3 Điều 3 Hợp Đồng, tiến độ thanh toán tiền mua Căn Hộ như sau:
- Lần 1: Thanh toán 30% Giá Bán và thuế giá trị gia tăng ngay khi ký Hợp Đồng Mua Bán.
- Lần 2: Thanh toán 10% Giá Bán và thuế giá trị gia tăng không muộn hơn ngày 26/01/2017.
- Lần 3: Thanh toán 10% Giá Bán và thuế giá trị gia tăng không muộn hơn ngày 26/05/2017.
- Lần 4: Thanh toán 10% Giá Bán và thuế giá trị gia tăng không muộn hơn ngày 23/10/2017.
- Lần 5: Thanh toán 10% Giá Bán và thuế giá trị gia tăng không muộn hơn ngày 20/02/2018.
- Lần 6: Thanh toán 25% Giá Bán và toàn bộ thuế giá trị gia tăng còn lại của Giá B và K Bảo Trì Phần Sở Hữu Chung Nhà Chung C2 theo Thông báo bàn giao Căn Hộ của Bên Bán.
- Lần 7: Thanh toán 5% Giá Bán theo thông báo của Bên Bán khi Căn H3 được cấp Giấy Chứng Nhận.
Chi tiết về hồ sơ thanh toán Hợp Đồng như tài liệu đính kèm văn bản.
- Về quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của Công ty V đối với giao dịch cho vay của nguyên đơn và bị đơn
Trong trường hợp nguyên đơn và bị đơn thống nhất thỏa thuận thì Công ty không có quyền lợi và nghĩa vụ nào liên quan đến giao dịch vay giữa nguyên đơn và bị đơn.
- Về quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của bị đơn đối với Công ty V sau khi thống nhất thỏa thuận thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ:
Trong trường hợp bị đơn hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn thì bà Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm tiếp tục phối hợp để Công ty thực hiện nghĩa vụ hoàn tất các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do cơ quan có thẩm quyền cung cấp, như quy định tại Hợp Đồng và quy định tại Khoản 2.2 Điều 2 (Điều khoản bảo lưu nghĩa vụ Các Bên) tại Biên bản thanh lý Hợp Đồng ngày 04/9/2018 giữa Công ty V và bà Nguyễn Thị H1.
- Ý kiến của Công ty V đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tài sản bảo đảm
Theo quy định tại Phụ lục 07 Hợp Đồng về Dịch vụ quản lý cho thuê Căn H3, Công ty V là đơn vị có quyền sử dụng, quản lý khai thác, cho thuê Căn Hộ để kinh doanh dịch vụ lưu trú (Khách sạn) kể từ ngày 04/9/2018. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên Đơn. Công ty V đề nghị nguyên đơn/Bị đơn lưu ý tuân thủ nghĩa vụ quy định tại Điều 10.3 Phụ lục 07 Hợp Đồng trong trường hợp Căn Hộ được tiếp thị để bán và được chuyển nhượng, chuyển giao cho bên thứ ba;
Các Bên liên quan bao gồm bất kỳ người nào sau đó sở hữu căn hộ cần tuân thủ đúng các nghĩa vụ tại Phụ lục 07 của Hợp Đồng;
Đề nghị Quý Tòa đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp khác đối với Công ty V trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Ngoài ra, trong trường hợp căn hộ là tài sản bảo đảm bị phát mại để thanh toán khoản nợ của bị đơn và chuyển giao cho chủ sở hữu mới, khi đó các bên liên quan bao gồm bất kỳ người nào sau đó sở hữu căn hộ cần phối hợp với Công ty V để hoàn tất các nghĩa vụ thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do cơ quan có thẩm quyền cung cấp, như quy định tại Hợp Đồng và quy định tại Khoản 2.2 Điều 2 (Điều khoản bảo lưu nghĩa vụ các bên) Biên bản thanh lý Hợp Đồng ngày 04/9/2018 giữa Công ty V và bà Nguyễn Thị H1.
Ngoài ra Công ty V không có ý kiến gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty Cổ phần Đ2 (Công ty Đ2) có Văn bản gửi Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm và trình bày như sau:
Ngày 19/4/2017 bà Nguyễn Thị H1 có ký Hợp đồng mua bán căn hộ số B32-17/HĐMB/PANORAMA NHA TRANG với Công ty Đ2 để mua một căn hộ du lịch có thông tin như sau:
- Căn hộ số B32-17 thuộc Dự án Panorama N tại số B N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;
- Căn hộ đã hoàn thành công tác xây dựng, chưa được Cơ quan Nhà nước cấp Giấy Chứng Nhận sở hữu căn hộ;
- Tổng giá bán căn hộ theo Hợp đồng mua bán là 1.815.286.482 đồng;
- Số tiền bà H1 đã thanh toán cho Công ty Đ2 là 1.734.279.245 đồng (tương ứng khoảng 95% giá trị của Hợp đồng mua bán);
- Hình thức thanh toán: có vay Ngân hàng.
Ngày 09/6/2020 bà H1 đã nhận bàn giao căn hộ theo Biên bản bàn giao căn hộ số B32-17;
Trường hợp bà H1, ông Đ và Ngân hàng T3 thống nhất thỏa thuận thì Công ty Đ2 sẽ căn cứ theo các nội dung được quy định tại thỏa thuận về việc Quản lý, xử lý tài sản thế chấp để thực hiện.
Trường hợp ông Đ, bà H1 và Ngân hàng T3 thống nhất thỏa thuận thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì ông Đ, bà H1 còn có các nghĩa vụ sau: số tiền còn lại của đợt nhận bàn giao chưa thanh toán là 32.337 đồng;
Tiền lãi chậm nộp phát sinh trong quá trình thực hiện Hợp đồng là 18.351.648 đồng;
Tiền đợt cuối khi cấp Giấy chứng nhận căn hộ (theo Thông báo của Công ty Đ2) là 81.039.571 đồng.
Như vậy, tổng số tiền còn lại mà bà H1, ông Đ còn phải thanh toán cho Công ty Đ2 là 99.423.559 đồng.
Ý kiến của Công ty Đ2 đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn như sau:
Công ty Đ2 với bà H1, ông Đ và Ngân hàng T3 đã ký kết Thỏa thuận về việc quản lý, xử lý tài sản thế chấp. Đến nay, Công ty Đ2 cũng đã hoàn thành việc bàn giao căn hộ cho bà H1 theo đúng quy định tại Hợp đồng mua bán và hiện chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ B32-17. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Công ty Đ2 kính đề nghị Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, văn bản thỏa thuận ba bên để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Công ty Đ2 xin được vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án cũng như vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.
Tại phiên tòa:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng T3 trình bày:
Ngày 26/4/2024 nguyên đơn T3 nộp Đơn tự nguyện xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đới với toàn bộ số tiền phạt vi phạm Hợp đồng là 140.570.606 đồng (một trăm bốn mươi triệu, năm trăm bảy mươi nghìn, sáu trăm linh sáu đồng), không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 29/7/2024 nguyên đơn T3 nộp Đơn xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện đối với Hợp đồng tín dụng số HSO201853218495/HĐTD cùng đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/01 ngày 18/7/2018; Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTD cùng đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO202071279851/01 ngày 21/01/2020 cùng thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/HĐTD/PL01 ngày 06/7/2020 ký giữa T3 với bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời rút yêu cầu xử lý đối với tài sản bảo đảm là: Căn hộ số B32-17 tại tầng 32 tháp B cũng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ, tại dự án Panorama N, địa chỉ số B đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hợp đồng mua bán căn hộ số: B32-17/HĐMB/PANORAMA NHA TRANG ngày 19/4/2017 giữa Công ty Đ2 và bà Nguyễn Thị H1 - theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 1783/2018- Quyền số 04/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/6/2018, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với những yêu cầu khởi kiện còn lại theo Đơn khởi kiện nguyên đơn T3 vẫn giữ nguyên và đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho Ngân hàng T3 tổng số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017 cùng đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số TTC20170353/01 ngày 24/01/2017 đã ký giữa hai bên, số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là: 637.624.771 đồng, trong đó: nợ gốc là 605.689.139 đồng; lãi trong hạn là 31.935.632 đồng;
- Bị đơn ông Đ và bà H1 tiếp tục phải trả cho T3 khoản tiền lãi phạt phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017 cùng Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số TTC20170353/01 ngày 24/01/2017 đã ký giữa hai bên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 31/7/2024 cho đến khi ông Đ, bà H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho T3.
- Trường hợp ông Đ, bà H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho T3 thì T3 đề nghị Tòa án tuyên cho T3 được quyền kê biên, xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho T3, tài sản bảo đảm là: Căn hộ số 12 tại tầng 7, cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ thuộc Nhà chung cư tại Dự án Tổ hợp khách sạn, Trung tâm thương mại R, có địa chỉ tại đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (đã được điều chỉnh thành căn hộ số VRC-07-12 tại tầng 7 thuộc Tòa nhà có địa chỉ số C T, phương A, quận S thành phố Đà Nẵng thuộc Dự án theo Phụ lục 09). Hợp đồng mua bán căn hộ số: VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 giữa Công ty TNHH V và bà Nguyễn Thị H1 cùng các Phụ lục sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của Hợp đồng mua bán căn hộ số: VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 - theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 730 ngày 21/01/2017. Tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật ngày 24/01/2017, mã số đơn: 1239298370 tại Cục Đ3.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ đối với T3. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho T3.
Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Ngày 28/7/2024 vợ chồng bà đã tất toán đối với số tiền nợ gốc và nợ lãi cho T3 theo Hợp đồng tín dụng số HS0201853218495/HĐTD ngày 11/6/2018 và Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTĐ ngày 21/01/2020 ký giữa Ngân hàng T3 với bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ. Đồng thời T3 đã giải chấp đối với tài sản bảo đảm cho vợ chồng bà là: Căn hộ số B32-17 tại tầng 32 tháp B cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ, tại dự án Panorama N, địa chỉ số B đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hợp đồng mua bán căn hộ số: B32-17/HĐMB/PANORAMA NHA TRANG ngày 19/4/2017 giữa Công ty Đ2 với bà - theo Hợp đồng thế chấp sổ công chứng 1783/2018- Quyền số 04/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/6/2018. Đồng thời Ngân hàng T3 đã có Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với hai Hợp đồng nêu trên và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với số tiền nợ gốc và nợ lãi còn lại của Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017 cùng Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số TTC20170353/01 ngày 24/01/2017 đã ký giữa hai bên, số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 637.624.771 đồng, trong đó: Nợ gốc là 605.689.139 đồng; lãi trong hạn là 31.935.632 đồng, như T3 trình bày là đúng. Bà H1 đề nghị T3 xem xét tạo điều kiện cho vợ chồng bà được trả nợ theo lộ trình trong Hợp đồng đã ký giữa hai bên.
Ngoài ra bà H1 không có yêu cầu gì khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Đ2 đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty V không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ và Công ty V không đến Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt các Văn bản, Thông báo, Quyết định hợp lệ. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1, tại phiên tòa lần 2, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty V vắng mặt không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử vụ án vào hồi 08h30 ngày 11/7/2024, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty V vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty V là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017 cùng Khế ước nhận nợ số TTC2017035/01 ngày 24/01/2017, ký giữa T3 với bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng, do đó có hiệu lực thi hành đối với các bên. Quá trình thực hiện các Hợp đồng, ông Đ và bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết theo các Hợp đồng đã ký nên T3 đã nộp Đơn khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà H1 phải trả số tiền nợ gốc, lãi trong hạn theo Hợp đồng tín dụng ngày 18/01/2017 cùng đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ ngày 24/01/2017 đã ký giữa hai bên, số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 637.624.771 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 605.689.139 đồng; lãi trong hạn là: 31.935.632 đồng là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, yêu cầu phát mại tài sản đảm bảo là căn hộ số 12 tại tầng 7 khu căn hộ thuộc Nhà chung cư tại Dự án Tổ hợp khách sạn, Trung tâm thương mại R, có địa chỉ tại đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (đã được điều chỉnh thành căn hộ số VRC-07-12 tại tầng 7 thuộc Tòa nhà có địa chỉ số C T, phương A, quận S thành phố Đà Nẵng thuộc Dự án theo Phụ lục 09) của T3, nhận thấy: Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 730 ngày 21/01/2017, được các bên tự nguyện ký kết, thực hiện đúng hình thức và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Bằng tài sản hợp pháp của mình, ông Đ, bà H1 thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của ông bà. Do đó, Hợp đồng thế chấp trên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên. Trường hợp ông Đ, bà H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, T3 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là căn hộ trên, để thu hồi khoản nợ cho T3. Trường hợp không đủ, ông Đ và bà H1 tiếp tục có trách nhiệm trả T3 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
Đối với toàn bộ số tiền phạt vi phạm Hợp đồng là 140.570.606 đồng (một trăm bốn mươi triệu, năm trăm bảy mươi nghìn, sáu trăm linh sáu đồng). Ngày 26/4/2024 Nguyên đơn T3 đã nộp Đơn tự nguyện xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền này, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với Hợp đồng tín dụng số HS0201853218495/HĐTD ngày 11/6/2018 và Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTĐ ngày 21/01/2020 cùng Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số HS0201853218495/01 ngày 11/6/2018 cùng Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO202071279851/HĐTD/PL01 ngày 06/7/2020 và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO202071279851/01 ngày 21/01/2020 đã ký giữa T3 với bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn Đ. Ngày 29/7/2024 Nguyên đơn T3 có Đơn tự nguyện xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện đối với các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Đồng thời rút yêu cầu xử lý đối với tài sản bảo đảm là: Căn hộ số B32-17 tại tầng 32 tháp B cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ, tại dự án Panorama N, địa chỉ số B đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hợp đồng mua bán căn hộ số B32-17/HĐMB/PANORAMA NHA TRANG ngày 19/4/2017 giữa Công ty Cổ phần Đ2 và bà Nguyễn Thị H1 - theo Hợp đồng thế chấp sổ công chứng 1783/2018- Quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/6/2018. Do bà H1, ông Đ đã tất toán xong khoản nợ đối với các Hợp đồng nêu trên cho T3 và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét thấy, việc việc rút một phần yêu cầu khởi kiện nói trên của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hồi đồng xét xử không xem xét giải quyết và đình chỉ đối với các yêu cầu này của nguyên đơn.
Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thời hiệu khởi kiện và thủ tục tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền:
Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, nguyên đơn T3 xuất trình tài liệu chứng minh bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 có hộ khẩu thường trú và ở tại số B phố H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.2. Về quan hệ pháp luật:
Ngân hàng thương mại cổ phần K1 (T3) khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu Tòa án tuyên ông Đ, bà H1 phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo các Hợp đồng tín dụng đã ký giữa T3 với ông Đ, bà H1. Số tiền tranh chấp phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên, do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.3. Về thời hiệu khởi kiện:
T3 và ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H1 ký Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017; Hợp đồng tín dụng số HSO201853218495/HĐTD ngày 11/6/2018 và Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTD ngày 20/01/2020 cùng thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/HĐTD/PL01 ngày 06/7/2020. Tại Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ kèm theo, các bên thỏa thuận về ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là ngày 24/01/2032. Quá trình thực hiện Hợp đồng, do ông Đ, bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 22/03/2023 T3 nộp Đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm. Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015, vụ án còn thời hiệu khởi kiện.
1. 4. Về thủ tục tố tụng:
Về việc bổ sung đương sự vào tham gia tố tụng:
quá trình giải quyết vụ án nhận thấy, tài sản đảm bảo là:
Căn hộ số 12 tại tầng 7, cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ thuộc Nhà chung cư tại Dự án Tổ hợp khách sạn, Trung tâm thương mại R, có địa chỉ tại đường N, phường A, quận S, Thành phố Đà Nẵng (đã được điều chỉnh thành căn hộ số VRC-07-12 tại tầng 7 thuộc Tòa nhà có địa chỉ số C T, phương A, quận S, Thành phố Đà Nẵng thuộc Dự án theo Phụ lục 09). Hợp đồng mua bán căn hộ số VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 giữa Công ty TNHH V và bà Nguyễn Thị H1 cùng các Phụ lục sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của Hợp đồng mua bán căn hộ số VRC-07-12/CONDOTEL.ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016. Hợp đồng thế chấp công chứng số 730 ngày 21/01/2017.
Căn hộ số B32-17 tại tầng 32 tháp B cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ, tại dự án Panorama N, địa chỉ số B đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hợp đồng mua bán căn hộ số B32-17/HĐMB/PANORAMA NHA TRANG ngày 19/4/2017 giữa Công ty Cổ phần Đ2 và bà Nguyễn Thị H1. Hợp đồng thế chấp số công chứng 1783/2018- Quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/6/2018.
Ông Đ, bà H1 chưa thanh toán hết số tiền mua nhà với Chủ đầu tư. Tuy nhiên, ông Đ, bà H1 đã được giao quản lý, sử dụng căn hộ. Ông Đ, bà H1 hiện chưa làm các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ mà chưa có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà hợp pháp. Về tính pháp lý, căn hộ trên vẫn chưa được đăng ký chủ sở hữu cho ông Đ, bà H1. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự, Toà án xác định và đưa Công ty TNHH V và Công ty Cổ phần Đ2 vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đúng quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1. 5. Về việc xét xử vắng mặt bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH V và Công ty Cổ phần Đ2:
Ông Nguyễn Văn Đ là bị đơn trong vụ án có hộ khẩu thường trú tại số B phố H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý vụ án, Giấy báo đến Tòa làm việc và các Quyết định, Thông báo khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để triệu tập ông Đ đến Tòa án giải quyết vụ án dân sự tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Đơn khởi kiện của Ngân hàng T3. Tuy nhiên, chỉ có bà H1 có mặt, ông Đ vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án. Bà H1 cho biết các Văn bản tố tụng của Tòa án, bà H1 nhận hộ ông Đ (chồng bà), bà H1 đã giao lại tận tay cho ông Đ, nhưng do ông Đ bận đi làm nên không có thời gian đến Tòa án. Tòa án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào hồi 09h00 ngày 12/6/2024 nhưng ông Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH V đều vắng mặt không có lý do. Công ty Cổ phần Đ2 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án đã có Quyết định hoãn phiên tòa và thời gian mở lại phiên tòa xét xử vụ án vào hồi 08h30' ngày 11/7/2024, do bà H1 có Đơn xin hoãn phiên tòa. Vì vậy, Tòa án đã có Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định lịch xét xử vào hồi 08h30' ngày 30/7/2024. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH V vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH V và Công ty Cổ phần Đ2 là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung vụ án:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K1 (T3) buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và nợ lãi theo các Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ đã ký kết, nhận thấy:
Ngày 18/01/2017 T3 do ông Nguyễn Viết C3, Phó giám đốc Ngân hàng T3 - Chi nhánh H4 là đại diện và ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H1 ký Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017, với số tiền T3 cho ông Đ, bà H1 vay là 984.249.139 đồng;
Ngày 11/6/2018 T3 do bà ông Lê Mạnh Đ1, Giám đốc Trung tâm T3 là đại diện và ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H1 ký Hợp đồng tín dụng số HSO201853218495/HĐTD, với số tiền Ngân hàng T3 cho ông Đ, bà H1 vay là là 802.291.794 đồng.
Ngày 21/01/2020 Ngân hàng T3 do ông Lê Mạnh Đ1, Giám đốc Trung tâm T3 là đại diện và ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H1 ký Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTD cùng thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/HĐTD/PL01 ngày 06/7/2020, với số tiền T3 cho ông Đ, bà H1 vay là 486.237.451 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đều công nhận việc ký kết các Hợp đồng tín dụng và các Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, đúng chủ thể tham gia ký kết Hợp đồng nên các Hợp đồng tín dụng trên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
2.2. Sau khi ký kết các Hợp đồng tín dụng trên, ngày 24/01/2017 Ngân hàng T3 đã giải ngân cho ông Đ, bà H1 số tiền là 984.249.139 đồng theo Khế ước nhận nợ số TTC20170353.01 ngày 24/01/2017, số tiền nhận nợ là 984.249.139 đồng. Ngày 18/7/2018 Ngân hàng T3 đã giải ngân cho ông Đ, bà H1 số tiền là 802.291.794 đồng theo Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495.01 ngày 18/7/2018, số tiền nhận nợ là 802.291.794 đồng. Ngày 21/01/2020 Ngân hàng T3 đã giải ngân cho ông Đ, bà H1 số tiền là 486.237.451 đồng theo Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO202071279851.01 ngày 21/01/2020, số tiền nhận nợ là 486.237.451 đồng.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 đã trả được cho Ngân hàng 1.960.319.295 đồng, trong đó số tiền nợ gốc đã trả là 823.939.226 đồng, số tiền nợ lãi đã trả là 1.137.091.961 đồng. Sau đó, ông Đ và bà H1 không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong các Hợp đồng tín dụng. T3 đã gửi nhiều Thông báo, Công văn yêu cầu ông Đ và bà H1 trả nợ, hoặc bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng xử lý theo đúng quy định, nhưng ông Đ và bà H1 không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng. Đối chiếu với khoản nợ gốc đã giải ngân yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn T3 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.3. Ngày 26/4/2024 Nguyên đơn T3 có Đơn tự nguyện xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đới với toàn bộ số tiền phạt vi phạm Hợp đồng là 140.570.606 đồng (một trăm bốn mươi triệu, năm trăm bảy mươi nghìn, sáu trăm linh sáu đồng), không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 29/7/2024 Nguyên đơn T3 có Đơn xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện đối Hợp đồng tín dụng số HS0201853218495/HĐTD ngày 11/6/2018 và Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTĐ ngày 21/1/2020 cùng Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số HS0201853218495/01 ngày 11/6/2018 cùng Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số HSO202071279851/HĐTD/PL01 ngày 06/7/2020 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số HSO202071279851/01 ngày 21/01/2020 đã ký giữa T3 với bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ.
Đồng thời rút yêu cầu xử lý đối với tài sản bảo đảm là: Căn hộ số B32-17 tại tầng 32 tháp B cũng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ, tại dự án Panorama N, địa chỉ số B đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hợp đồng mua bán căn hộ số: B32-17/HĐMB/PANORAMA NHA TRANG ngày 19/4/2017 giữa Công ty Cổ phần Đ2 và bà Nguyễn Thị H1 - theo Hợp đồng thế chấp sổ công chứng: 1783/2018- Quyền số 04/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/6/2018. Do bà H1, ông Đ đã tất toán xong cho T3 và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét thấy, việc việc rút một phần yêu cầu khởi kiện nói trên của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với với quy định tại Điều 5 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử không xem xét và đình chỉ đối với các yêu cầu này của nguyên đơn.
2.4. Ngân hàng T3 yêu cầu ông Đ, bà H1 phải trả số tiền nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017 và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số TTC20170353/01 ngày 24/01/2017 đã ký giữa hai bên là 605.689.139 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.5. Ngân hàng T3 yêu cầu ông Đ, bà H1 phải trả số tiền nợ lãi trong hạn theo Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017 và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số TTC20170353/01 ngày 24/01/2017 đã ký giữa hai bên, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/7/2024 là 31.935.632 đồng.
Xét, Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017, các bên thỏa thuận lãi suất cho vay giai đoạn 1 áp dụng Lãi suất cố định 9.99%/năm từ ngày nhận nợ (24/01/2017) đến hết 36 tháng kể từ ngày nhận nợ; đối với giai đoạn 2 áp dụng lãi suất thả nổi kể từ ngày sau ngày kết thúc giai đoạn 1 đến ngày đến hạn trả nợ cuối cùng, trong đó lãi suất vay được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng và bằng Lãi suất cơ sở Bất động sản vingroup dài hạn (+) Biên độ 3.99%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được T3 quy định theo từng thời kỳ, tương ứng với từng đối tượng khách hàng.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác nhận tổng số nợ lãi trong hạn đã tính theo đúng thỏa thuận trên. Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận lãi suất là sự tự nguyện của các bên, số tiền lãi trong hạn được tính theo đúng quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán và Thỏa thuận lãi suất của các bên tại Hợp đồng và các Quyết định về mức lãi suất từng thời điểm của Ngân hàng thể hiện tại Bảng tính tổng hợp gốc, lãi. Vì vậy, nguyên đơn T3 yêu cầu ông Đ, bà H1 thanh toán số tiền lãi trong hạn của số tiền gốc trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xác định tính đến ngày 30/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) ông Đ, bà H1 còn nợ Ngân hàng T3 số tiền lãi trong hạn là 31.935.632 đồng (Ba mươi mốt triệu, chín trăm ba mươi lăm nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng).
2.6. Nguyên đơn yêu cầu ông Đ, bà H1 tiếp tục phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và các Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ đã ký giữa hai bên kể từ ngày kế tiếp của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 31/7/2024 cho đến khi ông Đ, bà H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3]. Xét yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3):
Tại đơn khởi kiện của T3 và trong quá trình giải quyết vụ án T3 đề nghị: Kể từ ngày Quyết định/bản án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì T3 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho T3, tài sản bảo đảm là:
Căn hộ số 12 tại tầng 7, cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ thuộc Nhà chung cư tại Dự án Tổ hợp khách sạn, Trung tâm thương mại R, có địa chỉ tại đường N, phường A, quận S, Thành phố Đà Nẵng (đã được điều chỉnh thành căn hộ số VRC-07-12 tại tầng 7 thuộc Tòa nhà có địa chỉ số C T, phương A, quận S, Thành phố Đà Nẵng thuộc Dự án theo Phụ lục 09). Hợp đồng mua bán căn hộ số VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 giữa Công ty TNHH V và bà Nguyễn Thị H1 cùng các Phụ lục sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của Hợp đồng mua bán căn hộ số VRC-07-12/CONDOTEL.ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016. Hợp đồng thế chấp công chứng số 730 ngày 21/01/2017. Tài sản thế chấp trên đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật ngày 24/01/2017, mã số đơn: 1239298370 tại Cục Đ3.
Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Đ bà H1 đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản công chứng số 730 ngày 21/01/2017. Tài sản thế chấp trên đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật ngày 24/01/2017, mã số đơn 1239298370 tại Cục Đ3.
Xét, các Hợp đồng thế chấp trên được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Hợp đồng thế chấp trên được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Cơ quan có thẩm quyền. Do đó, Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.
Tại khoản 2.1 Điều 2 của Hợp đồng thế chấp - Thỏa thuận bảo đảm và bên được bảo đảm, quy định: “Bên thế chấp tại đây đồng ý thế chấp toàn bộ tài sản thế chấp quy định tại Hợp đồng này để bảo đảm cho toàn bộ các nghĩa vụ của Bên được bảo đảm quy định tại khoản 2.2 Điều này đối với T3 theo Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm (là các Hợp đồng mà bên được bảo đảm đã ký kết với T3 có phát sinh các nghĩa vụ nợ của bên được bảo đảm với T3 được bảo đảm bằng tài sản thế chấp theo quy định của Hợp đồng thế chấp này) và toàn bộ các nghĩa vụ của bên thế chấp đối với T3 phát sinh theo Hợp đồng thế chấp này”.
Tại điểm a khoản 8.1 Điều 8 của Hợp đồng thế chấp về xử lý tài sản thế chấp, quy định: “Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên được bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ”.
Tại điểm a khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng thế chấp về xử lý tài sản thế chấp, quy định: “T3 hoặc bên được T3 chỉ định được trực tiếp tiếp cận, quản lý, nhận bàn giao, thu giữ Bất động sản khi xảy ra các trường hợp quy định tại khoản 8.1 điều này”.
Tại điểm b khoản 8.3 Điều 8 của Hợp đồng thế chấp, quy định: “T3 nhận chính tài sản thế chấp/bất động sản và khấu trừ nghĩa vụ tương ứng của bên được bảo đảm”.
Tại khoản 9.9 Điều 9 của Hợp đồng thế chấp về cam kết và bảo đảm, quy định: “Bên Thế Chấp cam kết thông báo cho T3 ngay khi có thông báo của Chủ Đầu Tư/Bên B1 (nếu có) về kế hoạch bàn giao Bất Động S cho Bên Thế Chấp; Bất Động Sản được cấp Giấy Chứng Nhận theo quy định của pháp luật và sử dụng chính Bất Động S để thế chấp cho T3. Cụ thể, trong trường hợp này, Bên Thế Chấp sẽ chuyển giao ngay các giấy tờ, tài liệu tại Mục ii Điểm a Khoản 1.2 Điều 1 Hợp Đồng này, đồng thời thực hiện việc ký phụ lục sửa đổi bổ sung Hợp Đồng này hoặc hợp đồng thế chấp mới để ghi nhận bất động sản đã hình thành (tại giai đoạn được cấp Giấy Chứng Nhận), công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm và thực hiện bất kỳ thủ tục nào khác theo yêu cầu của T3. Trường hợp Bên Thế Chấp không ký các phụ lục hoặc hợp đồng mới nêu trên thì khi đó Hợp Đồng này mặc nhiên được coi là Hợp đồng thế chấp bất động sản đã hình thành. Bên Thế Chấp chấp nhận thanh toán toàn bộ cả các chi phí phát sinh phục vụ cho trong quá trình công chứng, đăng ký lại giao dịch bảo đảm đối với tài sản hình thành mới này (nếu có)”.
Công ty V có Văn bản cung cấp thông tin và hồ sơ quá trình thanh toán tiền mua nhà (Căn hộ số VRC-07-12) theo Hợp đồng mua bán căn hộ số VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 cho Tòa án quận H, cụ thể như sau: Ông Đ, bà H1 đã thanh toán cho Công ty V 6 lần tường đương với 95% giá trị căn hộ, còn 5% thanh toán theo thông báo của bên bán khi căn hộ được cấp Giấy chứng nhận. Trường hợp nguyên đơn và bị đơn thống nhất thỏa thuận thì Công ty V không có quyền lợi và nghĩa vụ nào liên quan đến giao dịch vay giữa nguyên đơn và bị đơn. Trong trường hợp bị đơn hoàn thành nghĩa vụ trả nợ với Nguyên đơn thì bà Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm tiếp tục phối hợp để Công ty V thực hiện nghĩa vụ hoàn tất các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do cơ quan có thẩm quyền cung cấp, như quy định tại Hợp Đồng và quy định tại Khoản 2.2 Điều 2 (Điều khoản bảo lưu nghĩa vụ Các Bên) tại Biên bản thanh lý Hợp Đồng ngày 04/9/2018 giữa Công ty V và bà Nguyễn Thị H1.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về Tài Sản B. Theo quy định tại Phụ lục 07 Hợp Đồng về Dịch vụ quản lý cho thuê Căn H3, Công ty V là đơn vị có quyền sử dụng, quản lý khai thác, cho thuê Căn Hộ để kinh doanh dịch vụ lưu trú (Khách sạn) kể từ ngày 04/9/2018. Do đó, Công ty V yêu cầu nguyên đơn và bị đơn tuân thủ nghĩa vụ quy định tại Điều 10.3 Phụ lục 07 Hợp Đồng trong trường hợp Căn Hộ được tiếp thị để bán và được chuyển nhượng, chuyển giao cho bên thứ ba.
Các Bên liên quan bao gồm bất kỳ người nào sau đó sở hữu Căn Hộ cần tuân thủ đúng các nghĩa vụ tại Phụ lục 07 Hợp Đồng;
Trong trường hợp Căn Hộ là Tài Sản Bảo Đảm bị phát mại để thanh toán khoản nợ của bị đơn và chuyển giao cho chủ sở hữu mới, khi đó các Bên liên quan bao gồm bất kỳ người nào sau đó sở hữu Căn Hộ cần phối hợp với Công ty V để Công ty V hoàn tất các nghĩa vụ thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do cơ quan có thẩm
quyền cung cấp, như quy định tại Hợp Đồng và quy định tại khoản 2.2 Điều 2 (Điều khoản bảo lưu nghĩa vụ Các Bên) Biên bản thanh lý Hợp Đồng ngày 04/9/2018 giữa Công ty V và bà Nguyễn Thị H1.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/4/2024 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, bà H1 xác nhận bà H1 và ông Đ đã nhận bàn giao hai căn hộ trên và hiện đang trực tiếp quản lý, sử dụng hai căn hộ trên.
Như vậy ông Đ, bà H1 tự nguyện thỏa thuận với T3 về việc dùng toàn bộ tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của ông Đ, bà H1. Việc ông Đ, bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán là cơ sở để T3 có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Do tài sản đã hình thành và được bàn giao cho ông Đ, bà H1 nên theo Thỏa thuận tại các điều khoản trên và theo quy định tại Điều 223 và Điều 305 của Bộ luật dân sự năm 2015: “Người được giao tài sản thông qua Hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc Hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó”; “Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm”, yêu cầu của T3 về việc được kê biên, phát mại xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ số tiền nợ khi ông Đ, bà H1 vi phạm nghĩa vụ, tài sản bảo đàm là:
Căn hộ số 12 tại tầng 7, cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ thuộc Nhà chung cư tại Dự án Tổ hợp khách sạn, Trung tâm thương mại R, có địa chỉ tại đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (đã được điều chỉnh thành căn hộ số VRC-07-12 tại tầng 7 thuộc Tòa nhà có địa chỉ số C T, phương A, quận S thành phố Đà Nẵng thuộc Dự án theo Phụ lục 09). Hợp đồng mua bán căn hộ số: VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NĂNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 giữa Công ty TNHH V và bà Nguyễn Thị H1 cùng các Phụ lục sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của Hợp đồng mua bán căn hộ số: VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016. Hợp đồng thế chấp số công chứng 730 ngày 21/01/2017.
Người mua được căn hộ tiếp tục kế thừa quyền và nghĩa vụ của bên mua theo Hợp đồng mua bán, các phụ lục đã ký kết và phải tuân thủ theo Điều 4 Thỏa thuận về việc quản lý, xử lý tài sản bảo đảm tại Ngân hàng được ký kết giữa Công ty V, T3 và bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn Đ ngày 21/01/2017 để thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với căn hộ nêu trên, là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
[5].Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty V và Công ty Đ2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 68; Điều 5; khoản 2 Điều 71; Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 318; Điều 323; Điều 342; Điều 290; Điều 355 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Điều 280; Điều 298; Điều 317; Điều 392; Điều 429; Điều 466; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNNngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N2);
- Thông tư số 12/2010/TT - NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N2 về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3) đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3) số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017 và Khế ước nhận nợ số TTC20170353/01 ngày 24/01/2017, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/7/2024 là 637.624.771 đồng (Sáu trăm ba mươi bảy triệu, sáu trăm hai mươi bốn nghìn, bảy trăm bảy mươi mốt đồng), trong đó:
+ Nợ gốc là: 605.689.139 đồng;
+ Nợ lãi trong hạn là: 31.935.632 đồng;
- Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 còn phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3) khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày
- kế tiếp của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 31/7/2024 theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số TTC20170353/HĐTD ngày 18/01/2017 cùng Khế ước nhận nợ số TTC20170353/01 ngày 24/01/2017 đã ký giữa hai bên cho đến khi ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K1 (T3).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K1 (T3) đối với các yêu cầu sau:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3) đối với yêu cầu khởi kiện về Hợp đồng tín dụng số HSO201853218495/HĐTD ngày 11/6/2018 và Hợp đồng tín dụng số HSO202071279851/HĐTĐ ngày 21/1/2020 cùng Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO201853218495/01 ngày 18/7/2018 cùng Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số HSO202071279851/HĐTD/PL01 ngày 06/7/2020 và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số HSO202071279851/01 ngày 21/01/2020, đã ký giữa Ngân hàng TMCP K1 (T3) với bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3) đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là: Căn hộ số B32-17 tại tầng 32 tháp B cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ, tại dự án Panorama N, có địa chỉ tại số B đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hợp đồng mua bán căn hộ số: B32-17/HĐMB/PANORAMA NHA TRANG ngày 19/4/2017 giữa Công ty Cổ phần Đ2 và bà Nguyễn Thị H1 - theo Hợp đồng thế chấp sổ công chứng: 1783/2018- Quyền số 04/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/6/2018.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3) đối với yêu cầu trả tiền phạt vi phạm Hợp đồng.
- Trường hợp ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 không trả được khoản nợ trên cho Ngân hàng TMCP K1 (T3) thì Ngân hàng TMCP K1 (T3) có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP K1 (T3), tài sản bảo đảm là: Căn hộ số 12 tại tầng 7, cùng quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu chung của khu căn hộ thuộc Nhà chung cư tại Dự án Tổ hợp khách sạn, Trung tâm thương mại R, có địa chỉ tại đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (đã được điều chỉnh thành căn hộ số VRC-07-12 tại tầng 7 thuộc Tòa nhà có địa chỉ số C T, phương A, quận S thành phố Đà Nẵng thuộc Dự án theo Phụ lục 09). Hợp đồng mua bán căn hộ số VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 giữa Công ty TNHH V và bà Nguyễn Thị H1 cùng các Phụ lục sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của Hợp đồng mua bán căn hộ số: VRC-07-12/CONDOTEL ĐÀ NẴNG/HĐMBCH ngày 27/12/2016 - theo Hợp đồng thế chấp công chứng số 730 ngày 21/01/2017.
- Người mua được căn hộ tiếp tục kế thừa quyền và nghĩa vụ của bên mua theo Hợp đồng mua bán, các phụ lục đã ký kết và phải tuân thủ theo Điều 4 Thỏa thuận về việc quản lý, xử lý tài sản bảo đảm tại Ngân hàng được ký kết giữa giữa Công ty TNHH V, Ngân hàng TMCP K1 (T3) và bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn Đ ngày 21/01/2017 để thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với căn hộ nêu trên.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ đối với Ngân hàng TMCP K1 (T3). Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K1 (T3). Nếu số tiền thu được còn thừa thì Ngân hàng TMCP K1 (T3) trả lại phần thừa cho bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 29.505.000 đồng (Hai mươi chín triệu, năm trăm linh năm nghìn đồng).
- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại 32.357.000 đồng (Ba mươi hai triệu, ba trăm năm mươi bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp - theo Biên lai thu tiền số 0006061 ngày 03/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH V và Công ty Cổ phần Đ2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bà Nguyễn Thị Thu T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T3) và bị đơn bà Nguyễn Thị H1, vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH V và Công ty Cổ phần Đ2. Tòa án báo các đương sự có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | |
Nơi nhận:
| Nguyễn Thị Hiền Hòa |
Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 54/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng K1. và bà H1., ông Đ.
