Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LT

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày 30 -7- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kim Thị Ánh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tiến Sửu

Bà Trần Thị Kim Khuyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Phú- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở UBND xã T, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh ngày 09/9/2004; nơi ĐKHKTT: thôn H, xã K, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; Chồng, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 13/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tam giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 13/4/2024, Nguyễn Thị T, sinh năm 2004 ở thôn H, xã K, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc đang đi chơi một mình ở khu vực công viên phía trước cổng trường THPT N thuộc địa phận TDP H, thị trấn LT, huyện LT thì có nhu cầu sử dụng ma túy, lúc này T nhìn thấy một người phụ nữ đứng ở trong công viên (không rõ tên tuổi, địa chỉ), T hỏi thì được người phụ nữ này bán cho T 04 viên nén ma túy MDMA (kẹo) với giá 1.500.000 đồng. T cầm 4 viên nén ma túy cất giấu ở trong áo lót ngực của T và tiếp tục chơi ở đó, còn người phụ nữ bán ma túy đi đâu T không biết. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T bắt xe ôm đi tìm nơi sử dụng, khi đến khu vực thôn G, xã T, huyện LT thì T xuống xe đi bộ, khi T đang một mình đi bộ được khoảng 200 mét tới khu vực gần cổng quán Karaoke 888 thuộc địa phận thôn G, xã T, huyện LT thì bị tổ công tác Công an huyện LT phát hiện bắt quả tang thu giữ ở trong áo lót ngực của T có 04 viên nén màu cam (niêm phong ký hiệu A1) – T khai nhận đây là 4 viên ma túy tổng hợp MDMA (kẹo) của T mua để sử dụng cho bản thân.

Tại Bản kết luận giám định số 1056/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “04 (bốn) viên nén màu cam của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,2146g (Một phảy hai một bốn sáu gam, không kể bao bì) loại MDMA”.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho T ở khu vực công viên phía trước cổng trường THPT N ở thị trấn LT, huyện LT và người đàn ông lái xe ôm chở T. Do T không biết tên, tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

* Vật chứng thu giữ:

- Mẫu vật A1 = 1,2146g ma túy MDMA, cơ quan giám định hoàn lại = 1,1390g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong bao giấy gói “MẪU TRẢ 952” là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Thị T đã thành khẩn khai báo rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 54/CT-VKSLT ngày 04/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện LT truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT đề nghị giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị T từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ tạm giam 13/4/2024. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Mẫu vật cơ quan giám định hoàn lại 1,1390 gam MDMA là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện LT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/4/2024, tại khu vực thôn G, xã T, huyện LT, tổ công tác Công an huyện LT đi tuần tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị T đang có hành vi tàng trữ trái phép 04 viên nén ma túy MDMA có trọng lượng 1,2146 gam để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an huyện LT bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
  3. Hành vi tàng trữ trái phép 1,2146 gam MDMA của Nguyễn Thị T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

    Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

    “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    c, Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

    Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn khác. Bị cáo nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

  4. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Căn cứ vào tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục là cần thiết.

  5. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...", bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản, vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. Đối với người phụ nữ bán ma túy cho T ở khu vực công viên phía trước cổng trường THPT N ở thị trấn LT, huyện LT và người đàn ông lái xe ôm chở T. Do T không biết tên, tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý là phù hợp.
  7. Về xử lý vật chứng: Mẫu vật cơ quan giám định hoàn lại = 1,1390 gam MDMA cùng toàn bộ bao giấy gói “MẪU TRẢ VỤ 952” là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
  8. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/4/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 1,1390 gam MDMA cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong bao giấy gói “MẪU TRẢ VỤ 925” là vật nhà nước cấm lưu hành.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/7/2024 giữa Công an huyện LT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện LT)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện LT;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện LT;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện LT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS huyện LT;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS,VP, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Kim Thị Ánh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/4/2024.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger