Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HSST

Ngày: 30/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cô Hồng Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Phạm Văn Cư
  • 2/ Bà Trần Nguyệt Mai

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thụy Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T, sinh ngày 28 tháng 9 năm 1988, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: 2 N, Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: A Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tài xế xe ôm công nghệ; Học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1961; Con bà: Lê Thị Tuyết N, sinh năm: 1965; Vợ: Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1982 (không có đăng ký kết hôn); Con ruột: Nguyễn Trần Khánh L, sinh năm 2024; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con cả, 01 người sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2023 (bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Ông Trần Thế A, sinh năm 1999 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
  • 2/ Bà Thân Thị H, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số D Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 27/11/2023, tại trước nhà số D T, Phường G, Quận E, Tổ tuần tra 363 - Công an Q phát hiện Nguyễn Hữu T đang điều khiển xe mô tô biển số 94E1- 523.68 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong rổ trước xe mô tô T điều khiển có 01 gói thuốc lá hiệu “SÀI GÒN” bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, T khai là ma túy đá mua để sử dụng. Tiếp tục kiểm tra trong cốp xe có 01 gậy ba khúc bằng kim loại dài 53cm, 01 con dao bấm bằng kim loại dài 23cm và các giấy tờ tùy thân mang tên Nguyễn Hữu T nên Tổ công tác đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an P, Quận E lập biên bản phạm tội quả tang. Sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu. Tại bản Kết luận giám định ma tuý số 13360/KL-KTHS ngày 05/12/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,2589 gam, loại Methamphetamine.
  • 01 xe mô tô mang biển số 94E1 – 52368, số khung: RLHJC7618GZ113639, số máy: JC76E0168325 và Giấy bán xe 94E1 – 52368. Qua giám định, xe mô tô trên có số khung, số máy không bị đục lại số. Xác minh chiếc xe trên do Trần Thế A đứng tên chủ sở hữu, xác minh Trần Thế A không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. T khai mua lại của Thân Thị H với giá 18.000.000 đồng (có giấy bán xe) nhưng không làm thủ tục sang tên theo quy định.
  • 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “SÀI GÒN”, T dùng để cất giấu ma tuý.
  • 01 gậy ba khúc bằng kim loại dài 53cm, 01 con dao bấm bằng kim loại dài 23cm. T khai mua trên mạng xã hội, dùng để phòng thân.
  • 01 căn cước công dân photocopy, 01 sơ yếu lý lịch, 01 giấy xác nhận hạnh kiểm tất cả đều mang tên Nguyễn Hữu T. Là giấy tờ của T dùng để đi xin việc làm.
  • 01 điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 357451090437686 là điện thoại T dùng để liên lạc mua ma tuý.
  • 01 điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 352628112930815 là tài sản cá nhân của T dùng để giải trí, không sử dụng vào việc mua ma tuý.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Hữu T khai nhận: Bản thân Thiện là người nghiện ma túy. Khoảng đầu tháng 11/2023, thông qua mạng xã hội Z, T quen biết với thanh niên có Nick “Trần Công H1”, biết H1 có bán ma túy đá nên T mua để sử dụng. Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 27/11/2023, T liên lạc với H1 qua Z hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, H1 đồng ý và hẹn T đến khu vực giao lộ L - Hồ Thị K thuộc Quận A để nhận ma túy. T điều khiển xe mô tô biển số 94E1 – 523.68 đến điểm hẹn, gặp H1 và nhận 01 gói ma túy đá được đựng trong 01 gói nyon bên trong chứa tinh thể không màu, T cất gói ma túy trên vào trong vỏ bao thuốc lá và để ở rổ xe mô tô rồi tiếp tục điều khiển xe sang Quận E chở vợ đi ăn. Khi đang lưu thông đến trước số D T, Phường G, Quận E thì bị Tổ tuần tra 363 Công an Q phát hiện, bắt giữ như trên. T khai nhận số ma túy trên để sử dụng cho cá nhân, ngoài ra không có mục đích khác.

Lời khai của T phù hợp lời khai những người làm chứng; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Tại Bản cáo trạng số 54/CT-VKS-Q5 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, xác định:

Vào khoảng 21 giờ ngày 27/11/2023, tại trước số D T, Phường G, Quận E, Nguyễn Hữu T đã có hành vi cất giữ trong rổ trước xe mô tô biển số 94E1- 523.68 một gói nylon chứa tinh thể không màu màu khối lượng 0,2589 gam là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Hành vi của Nguyễn Hữu T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với đối tượng “Trần Công H1” đã bán ma tuý cho Nguyễn Hữu T, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q đang tiếp tục điều tra, xác minh khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hữu T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định pháp luật, gồm tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,2589 gam, loại Methamphetamine; tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “SÀI GÒN”, 01 gậy ba khúc bằng kim loại dài 53cm, 01 con dao bấm bằng kim loại dài 23cm do không còn giá trị sử dụng; trả lại cho bị cáo các giấy tờ như 01 bản photo căn cước công dân, 01 sơ yếu lý lịch, 01 giấy xác nhận hạnh kiểm; tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 357451090437686 của bị cáo T đã dùng để liên lạc mua ma tuý; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 352628112930815 là tài sản cá nhân của bị cáo T không sử dụng vào việc mua ma tuý; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu của chiếc xe mô tô mang biển số 94E1 – 52368, số khung: RLHJC7618GZ113639, số máy: JC76E0168325. Đồng thời buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Hữu T không có ý kiến tranh luận và nói lời nói sau cùng là tỏ ra ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để có điều kiện về lại với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. [2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận như sau: Bị cáo Nguyễn Hữu T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý ở thể rắn có khối lượng 0,2589 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy sẽ tìm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, trật tự xã hội ở địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

  3. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  5. [5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
  6. [6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Hữu T có hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
  7. [7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu T là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
  8. [8] Đối với đối tượng “Trần Công H1” đã bán ma tuý cho Nguyễn Hữu T, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q đang tiếp tục điều tra, xác minh khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
  9. [9] Về xử lý vật chứng:
    • + Đối với 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, kết luận giám định là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2589 gam. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
    • + Đối với các tang vật gồm 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “SÀI GÒN”, 01 gậy ba khúc bằng kim loại dài 53cm, 01 con dao bấm bằng kim loại dài 23cm, 01 bản photo căn cước công dân, 01 sơ yếu lý lịch, 01 giấy xác nhận hạnh kiểm của bị cáo Nguyễn Hữu T do không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
    • + Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 357451090437686 của bị cáo T đã dùng để liên lạc mua ma tuý, nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
    • + Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 352628112930815 là tài sản cá nhân của bị cáo T không sử dụng vào việc mua ma tuý, nên trả lại cho bị cáo.
    • + Đối với 01 xe mô tô mang biển số 94E1 – 52368, số khung: RLHJC7618GZ113639, số máy: JC76E0168325 và Giấy bán xe 94E1 – 523.68. Qua giám định, xe mô tô trên có số khung, số máy không bị đục lại số. Xác minh chiếc xe trên do Trần Thế A đứng tên chủ sở hữu, xác minh Trần Thế A không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. T khai mua lại của bà Thân Thị H với giá 18.000.000 đồng (có giấy bán xe) không làm thủ tục sang tên. Xét đây là tài sản chưa rõ ai là chủ sở hữu, vì các bên mua bán xe mà không thực hiện theo thủ tục pháp luật, hơn nữa do bị cáo đã sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự Quận 5 tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 03 tháng để tìm chủ sở hữu của chiếc xe, nếu hết thời hạn nêu trên mà không tìm được ai là chủ sở hữu hợp pháp, thì sung công quỹ Nhà nước.
  10. [10] Về trách nhiệm dân sự: Không có, không giải quyết.
  11. [11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 năm 06 tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 11 năm 2023.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, kết luận giám định là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2589 gam.
  • - Tịch thu tiêu hủy các tang vật gồm: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “SÀI GÒN”, 01 gậy ba khúc bằng kim loại dài 53cm, 01 con dao bấm bằng kim loại dài 23cm, 01 bản photo căn cước công dân, 01 sơ yếu lý lịch, 01 giấy xác nhận hạnh kiểm của bị cáo Nguyễn Hữu T.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 357451090437686 của bị cáo T.
  • - Trả lại cho bị cáo T 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung, số IMEI: 352628112930815.
  • - Giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự Quận 5 tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 03 tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô mang biển số 94E1 – 523.68, số khung: RLHJC7618GZ113639, số máy: JC76E0168325, nếu hết thời hạn nêu trên mà không tìm được ai là chủ sở hữu, thì sung công quỹ Nhà nước.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 30/5/2024 giữa đại diện Cơ quan điều tra - Công an Q và Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 5).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cô Hồng Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 54/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger