Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 54/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 30/5/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đỉnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Văn Thái
  2. Ông Đường Thanh Chánh

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 68/2024/TLST-HN ngày 15 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 63/2024/QĐST-HN ngày 15 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Võ Nguyễn Minh T, sinh năm 1994 (xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre

Bị đơn: Mai Bảo T1, sinh năm 1987 (vắng mặt không lý do)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chị Võ Nguyễn Minh T trình bày:

Về hôn nhân: Trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước chị Võ Nguyễn Minh T và anh Mai Bảo T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 11 tháng 12 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do thường hay tranh cãi, bất đồng quan điểm sống dẫn đến không còn hạnh phúc, vợ chồng đã cố gắng để hàn gắn tình cảm để chung sống nhưng không có kết quả. Chị Võ Nguyễn Minh T vẫn yêu cầu xin ly hôn với anh Mai Bảo T1.

Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 01 con chung tên Mai Thiên B, sinh ngày 13/6/2018, hiện nay cháu đang sống cùng anh T1, sau khi ly hôn chị Võ Nguyễn Minh T đồng ý để anh M Bảo Trọng nuôi cháu Mai Thiên B và chị T không cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có nợ ai nên không yêu cầu giải quyết

Bị đơn anh M Bảo Trọng vắng mặt tại phiên tòa và không có lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử là đảm bảo đúng pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đảm bảo, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật, cụ thể vắng mặt vào các lần Tòa mời hòa giải, xét xử.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Nguyễn Minh T; chị Võ Nguyễn Minh T được ly hôn với anh Mai Bảo T1 ; Về con chung: Anh M Bảo Trọng được trực tiếp nuôi cháu Mai Thiên B, sinh ngày 13/6/2028 chị Võ Nguyễn Minh T không cấp dưỡng nuôi con do anh M Bảo Trọng không có yêu cầu cấp dưỡng; Tài sản chung, nợ chung: chị Võ Nguyễn Minh T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và không có nợ ai, anh M Bảo Trọng không ý kiến nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nhận định:

Chị Võ Nguyễn Minh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Võ Nguyễn Minh T.

Anh Mai Bảo T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Mai Bảo T1.

[1] Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Võ Nguyễn Minh T và anh Mai Bảo T1 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc theo chị Võ Nguyễn Minh T trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay tranh cãi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể nào hàn gắn để tiếp tục chung sống. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án anh Mai Bảo T1 và chị Võ Nguyễn Minh T vẫn không biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng trở về chung sống, chị Võ Nguyễn Minh T vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh Mai Bảo T1. Anh Mai Bảo T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong hồ sơ vụ án và hòa giải nhưng anh Mai Bảo T1 vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy anh M Bảo Trọng không có thiện chí đến Tòa án hòa giải để về đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Võ Nguyễn Minh T và anh M Bảo Trọng không khắc phục được, mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Nguyễn Minh T là có căn cứ.

[2] Về nuôi con chung: Chị Võ Nguyễn Minh T và anh M Bảo Trọng có 01 con chung Mai Thiên B, sinh ngày 13/6/2018, hiện cháu đang sống cùng anh Mai Bảo T1. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Võ Nguyễn Minh T đồng ý để anh M Bảo Trọng nuôi cháu Mai Thiên B. Xét thấy cháu Mai Thiên B được anh chăm sóc và vẫn đảm bảo tốt việc chăm sóc, nuôi dạy bé vẫn được đảm bảo phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy, nhằm để đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất, tinh thần cũng như tâm sinh lý của cháu Mai Thiên B nên để anh M Bảo Trọng tiếp tục nuôi cháu Mai Thiên B là phù hợp. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì chị Võ Nguyễn Minh T không cấp dưỡng nuôi con, anh M Bảo Trọng không có ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Tài sản chung; nợ chung: Chị Võ Nguyễn Minh T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và không có nợ ai, anh M Bảo Trọng không có ý kiến nên không xem xét. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, chị Võ Nguyễn Minh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Nguyễn Minh T

    Chị Võ Nguyễn Minh T được ly hôn với anh M Bảo Trọng

  2. Về nuôi con chung: Anh M Bảo Trọng được trực tiếp nuôi cháu Mai Thiên B, sinh ngày 13/6/2018 chị Võ Nguyễn Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Mai Bảo T1 không có yêu cầu cấp dưỡng.

    Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về chia tài sản; nợ chung: Chị Võ Nguyễn Minh T trình bày không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và không có nợ ai, anh M Bảo Trọng không có ý kiến nên không xem xét. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.
  4. Về án phí: Chị Võ Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Võ Nguyễn Minh T đã nộp theo biên lai thu số 0003156 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc (2b);
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc (1b);
  • - UBND xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc (69, 11/12/2017)
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ - ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Võ Nguyễn Minh Thùy xin ly hôn với Mai Bảo Trọng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger