Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày 29/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024;

Đối với các bị cáo:

  1. Lê Thanh H, sinh ngày 24/8/2000 tại: Xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thanh T; con bà Vũ Thị D; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con.

    Tiền án: Ngày 20/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 28 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 12/12/2023, chấp hành xong án phạt tù.

    Nhân thân:

    • Ngày 07/6/2017, bị TAND huyện Nông Cống xử 06 tháng tù, cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản.
    • Ngày 23/10/2018 bị TAND huyện Nông Cống xử 17 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  2. Hà Tý N, sinh ngày 10/01/1999 tại: Xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Tý S; con bà Lê Thị T1; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ út, chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không

    Nhân thân:

    Năm 2016 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử 09 năm tù giam về tội Hiếp dâm trẻ em. Ngày 22/6/2021 chấp hành xong.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
  2. Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Văng mặt;
  3. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1965, địa chỉ: Khu phố X, T, T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
  4. Ông Lê Văn T4, sinh năm 1964, địa chỉ: Khu phố X, T, T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;

- Người làm chứng:

  1. Anh Vũ Văn N1, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
  2. Anh Trần Văn N2, sinh năm 1991, địa chỉ: Số D H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
  3. Anh Đỗ Văn T5, sinh năm 1982, địa chỉ: Số A N, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
  4. Chị Trần Thị T6, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt;
  5. Anh Trần Văn T7, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H). Vắng mặt;
  6. Anh Lương Quốc Â, sinh năm 1978, địa chỉ: Kênh T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
  7. Anh Lê Văn T8, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
  8. Anh Vũ Văn H2,sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
  9. Anh Lê Văn D1, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
  10. Anh Phạm Hùng T9, sinh năm 1995, địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/3/2024, Lê Thanh H đang ở nhà thì Hà T10 Nhớ gọi điện thoại qua tài khoản mạng xã hội Messenger Facebook. Quá trình nói chuyện hai đối tượng rủ nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Chiều cùng ngày, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu đen, mang biển kiểm soát 29F1-222.01của mình (Nhớ đặt mua trên mạng xã hội Facebook cuối năm 2023), từ nhà người yêu là Trần Thị T6 (sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình) đến nhà đón H rồi cả hai đi đến nhà nghỉ Q ở phường L, thành phố T để thuê phòng nghỉ, mục đích để đi trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian từ đêm ngày 06/3/2024 đến rạng sáng ngày 07/3/2024, H và N đã thực hiện 03 vụ trộm cắp, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 23 giờ ngày 06/3/2024, H và N điều khiển xe mô tô từ thành phố T đi theo tuyến đường N - S về hướng huyện T mục đích tìm nhà dân sơ hở để đột nhập trộm cắp tài sản.Nhớ chở H đi đến đường Đ thì rẽ phải đi vào xã X, huyện T. Đến khoảng 00 giờ ngày 07/3/2024, khi đến một đoạn đường nhựa thì N dừng xe đứng trên đường đợi, còn H đi bộ vào đường bê tông khu dân cư tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp. H quan sát thấy nhà bà Đỗ Thị T2 (sinh năm 1969) trú tại thôn N, xã X, huyện T khóa cửa cổng nhưng mái ngói, tường rào thấp nên trèo vào trong. H đi vào nhà chính dùng tay đẩy cửa ra vào nhà thì cửa không khóa, H mở cửa, sau đó đi vào phòng ngủ và trộm cắp 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A03s, màn hình cảm ứng màu đen đang để ở đầu giường bên phải trong phòng ngủ của bà Đỗ Thị T2. Khi đi ra, H thấy một túi xách màu đen treo trên tường phòng ngủ thì lấy luôn và ra đường lục tìm, lấy số tiền 2.000.000 đồng bên trong túi rồi cất vào túi quần sau đó mang túi xách để lại phòng ngủ. Quá trình bị trộm cắp tài sản, bà T2 đang ngủ say nên không biết sự việc. Sau khi trộm cắp được tài sản, H đi đến chỗ N và đưa điện thoại cho N, rồi ngồi lên xe đi tiếp theo đường nhựa, còn số tiền 2.000.000 đồng, H cất giấu chi tiêu cá nhân, không cho N biết.

Vụ thứ hai: Khoảng gần 01 giờ ngày 07/3/2024, H và N tiếp tục đi trộm cắp tài sản, khi đi qua nhà chị Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1994) trú tại thôn N, xã X, huyện T, thì N dừng xe cách nhà chị H1 khoảng 10m. H xuống xe đi bộ lại đẩy cửa cổng đi thì cửa không khóa, H đi vào sân rồi mở cửa ra vào nhà (cửa nhà không khóa), đi vào phòng ngủ trộm cắp 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen để ở trên bàn trang điểm cạnh giường phòng ngủ của chị H1. Sau khi trộm cắp được điện thoại, H cùng N kiểm tra thì thấy bên trong ốp lưng phía sau có số tiền 1.000.000 đồng nên lấy luôn, N cất điện thoại và tiền vào túi quần rồi tiếp tục chở H đi trộm cắp tài sản. Thời điểm bị trộm cắp, chị H1 đang ngủ nên không biết sự việc.

Vụ thứ ba: Khoảng gần 02 giờ, ngày 07/3/2024, N tiếp tục điều khiển xe máy chở H quay lại đường Đ rồi đi sang đường vào đường K, thị trấn S. Đến một ngã ba thì N dừng xe, H đi bộ vào ngõ bên trái rồi đi men theo tường hoa vào nhà bà Nguyễn Thị T3 (sinh năm 1965), trú tại Khu phố X, thị trấn S, H đẩy cửa ra vào (cửa không khóa) rồi vào phòng ngủ của ông Lê Văn T4 (chồng bà T3) trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A03s, màu xanh ở đầu giường bên phải. Sau đó, H đến phòng ngủ của bà T3 trộm cắp 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 để ở chiếc ghế nhựa loại ghế tựa màu nâu trắng cạnh giường. Thời điểm bị trộm cắp, bà T3 và chồng là ông T4 đang ngủ nên không biết sự việc.

Sau khi trộm cắp được 04 chiếc điện thoại di động của các bị hại, N và H đi xe mô tô về nhà nghỉ Q đã thuê trước đó để ngủ. Đến 09 giờ ngày 07/3/2024, sau khi ngủ dậy, H chở N đem bốn chiếc điện thoại trộm cắp được đi bán tại các cửa hàng điện thoại ở đường H, thành phố T. Nhớ bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 cho Cửa hàng điện thoại di động Đại Nam ở Số A, đường H, thành phố T (do Vũ Văn N1, sinh năm 1998 làm chủ) được 1.700.000 đồng, bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03s cho Trần Văn N2 (sinh năm 1991), chủ cửa hàng Anh N2 mobile ở Số D, H, Thành phố T được 700.000 đồng và bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 cho Đỗ Văn T5 (sinh năm 1982) chủ cửa hàng T11 ở phường Q, thành phố T được 400.000 đồng. Tổng số tiền bán được là 2.800.000 đồng.

Tổng số tiền bán tài sản và 1.000.000 đồng trong ốp điện thoại trộm cắp được vào ngày 07/3/2024 là 3.800.000 đồng, H và N chi tiêu ăn uống, trả tiền nhà nghỉ và đã tiêu xài cá nhân hết. Đối với số tiền 2.000.000 đồng, H trộm cắp của bà Đỗ Thị T2, H cất để sử dụng riêng, không cho Hà Tý N biết về số tiền này và H đã tiêu xài hết.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A03s do các cửa hàng không thu mua nên khi trên đường được N chở từ thành phố T về nhà, H đã ném xuống sông ở xã H, huyện N, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen biển kiểm soát 29F1-222.01, không xác định được số khung, số máy là của H Nhớ đặt mua trên mạng xã hội Facebook, không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Tra cứu thông tin biển kiểm soát 29F1-222.01 là của xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu vàng đen, chủ sở hữu là bà Phạm Thị H3, trú tại Tổ C Cụm E N, T, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, triệu tập làm việc, tuy nhiên bà Phạm Thị H3 vắng mặt tại địa chỉ trên nên không tiến hành làm việc được.

-Tại kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T: Giá trị tài sản bị thiệt hại của điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, model SM-A235F/DS do trộm cắp tài sản xảy ra ngày 07/3/2024, tại xã X, huyện T là 2.544.900 đồng.(BL: 232 - 233)

- Tại Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T:

  • + Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03, màu xanh, loại 32GB, giá trị tài sản tại thời điểm chiếm đoạt là 1.360.000 đồng.
  • + Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S, màu xanh, loại 32GB, giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.480.000 đồng.
  • + Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, màu tím đen, loại 32GB, giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 480.000 đồng.

- Tại kết luận giám định số 2126/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đối với file video liên quan đến vụ án, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 04 tệp video của 02 đĩa CD gửi giám định. (BL: 275)

Về phần dân sự: Anh Vũ Văn N1 không đề nghị bồi thường số tiền 1.700.000 đồng mà N1 sử dụng để mua lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23. Bà Nguyễn Thị H1 đã nhận lại điện thoại bị mất và không đề nghị bị cáo phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng đã bị trộm cắp. Bà Đỗ Thị T2 không yêu cầu bồi thường đối với các tài sản bị trộm cắp. Bà Nguyễn Thị T3, ông Lê Văn T4 và gia đình các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong, bà T3 và ông T4 không có yêu cầu gì khác, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Về vật chứngcủa vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 29F1-222.01, không xác định được số khung, số máy. Hiện vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện T.

Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSTX ngày 05/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Các bị cáo Lê Thanh H và H Nhớ về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh H và Hà Tý N phạm tội “trộm cắp tài sản”;

Về hình phạt đề nghị:

  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Thanh H và Hà Tý N. Riêng bị cáo H áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự.
  • + Xử phạt bị cáo Lê Thanh H từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2024.
  • + Xử phạt bị cáo Hà T10 Nhớ từ 9 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2024
  • Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 29F1-222.01.

Đề nghị truy thu các bị cáo số tiền hưởng lợi bất chính do phạm tội mà có là 2.800.000 đ. Cụ thể truy thu mỗi bị cáo 1.400.000 đ. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường đối với khoản tiền 1.000.000₫ của chị H1 và 2.000.000 đ cùng điện thoại của chị T2.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luát tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người làm chứng; Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Đêm ngày 06/3/2024, rạng sáng ngày 07/3/2024, Lê Thanh H và Hà Tý N lợi dụng đêm khuya vắng người qua lại và sơ hở của người dân, đã có hành vi lén lút, đột nhập vào các gia đình bà Đỗ Thị T2, chị Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị T3 và ông Lê Văn T4 trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.864.900 đồng. Trong đó bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số tiền là 6.864.900 đồng, bị cáo H chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền 8.864.900 đồng do đối với số tiền 2.000.000 đ H trộm cắp của bà T2 đã cất riêng, không cho N biết và H đã tiêu xài cá nhân hết.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ cấu thành tội “trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Các bị cáo vì mục đích vụ lợi, đã bất chấp pháp luật để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của các bị cáo chỉ là bột phát nên không xem là phạm tội có tổ chức. Xét vai trò, tính chất và mức độ của từng bị cáo khi thực hiện hành vi để quyết định hình phạt đối với từng bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo H là người thực hành tích cực, trực tiếp thực hiện các hành vi trộm cắp, là người hưởng lợi nhiều hơn bị cáo N nên xếp vai trò thứ nhất và phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo N.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu: Bị cáo H đã 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa xử phạt tù đều là hành vi trộm cắp tài sản; Bị cáo N đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 năm tù về hành vi hiếp dâm trẻ em. Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo H, ngày 07/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 28 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội nên phải chịu thêm tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khắc phục hậu quả và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần thiết xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, đã từng phải đi chấp hành án phạt tù, nhưng không chịu lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ các bị cáo coi thường pháp luật và không có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc và cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Chị H1 đã nhận lại điện thoại bị mất và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 1.000.000 đ đã trộm cắp của chị; Bà T2 không có yêu cầu bồi thường gì vền điện thoại và số tiền 2.000.000 đ; bà T3, ông T4 và gia đình các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong và không có yêu cầu gì khác; anh Vũ Văn N1 không yêu cầu các bị cáo phải hoàn lại số tiền 1.700.000 đ nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 29F1-222.01, không xác định được số khung, số máy, đây xác định là phương tiện của bị cáo N đã dùng vào việc phạm tội, đang còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 2.800.000 đ do các bị cáo bán các tài sản trộm cắp được, đây là tiền hưởng lợi do phạm tội mà có, nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước.

[9] Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với chiếc điện thoại S1 A03s, N đã bán cho của hàng Anh Ninh M, chiếc điện thoại trên đã được bán cho người khác không rõ tên tuổi, địa chỉ nên không thu hồi được. Chiếc điện thoại S1 A03 theo Nhớ khai đã bán cho cửa hàng Thức Mobilenhưng quá trình làm việc anh Đỗ Văn T5 không nhớ rõ có mua chiếc điện thoại như Nhớ đã khai báo do hàng ngày anh thường mua bán lại nhiều điện thoại của khách. Tại thời điểm kiểm tra và làm việc, không có chiếc điện thoại S1 A03 nào tại cửa hàng nên không thu hồi được. Anh Vũ Văn N1 (chủ cửa hàng T11) và Trần Văn N2 (chủ cửa hàng Anh N2 mobile) mua điện thoại trộm cắp của N, Đỗ Văn T5 (chủ cửa hàng T11) có liên quan đến việc N khai mua điện thoại trộm cắp của N nhưng cả 3 đều không biết đó là tài sản trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen biển kiểm soát 29F1-222.01, không xác định được số khung, số máy là của H Nhớ đặt mua trên mạng xã hội Facebook, không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Tra cứu thông tin biển kiểm soát 29F1-222.01 là của xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu vàng đen, chủ sở hữu là bà Phạm Thị H3, trú tại Tổ C Cụm E N, T, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, triệu tập làm việc, tuy nhiên bà Phạm Thị H3 vắng mặt tại địa chỉ trên nên không tiến hành làm việc được.

Ngoài 03 vụ trộm cắp trên, các bị cáo còn khai nhận: Rạng sáng ngày 06/3/2024, cũng với phương thức, thủ đoạn trên, hai bị cáo còn đi xe mô tô trên đến hai nhà dân ở địa bàn huyện T, để trộm cắp tài sản và đã trộm cắp được 03 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung nhưng không rõ địa chỉ của các bị hại. Sau đó đem bán cho các cửa hàng điện thoại di động tại thành phố T. Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất, áp giải đưa các bị cáo đi xác định địa điểm trộm cắp tài sản nói trên và nơi bán điện thoại tại thành phố T. Tuy nhiên, do các bị cáo là người địa phương khác, không thông thuộc địa bàn thành phố T và huyện T nên không xác định được vị trí cụ thể. Cơ quan điều tra đã thông báo đến Công an huyện T để phối hợp truy tìm bị hại của vụ trộm cắp tài sản nhưng không có kết quả nên không có căn cứ xử lý.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Thanh HHà Tý N. Riêng bị cáo H áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 53 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thanh HHà Tý N phạm tội “trộm cắp tài sản”;
    • - Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Hà Tý N 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2024.
  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 29F1-222.01, không xác định được số khung, số máy.

    Truy thu các bị cáo số tiền do phạm tội mà có sung quỹ Nhà nước, cụ thể: Truy thu bị cáo Lê Thanh H số tiền 1.400.000 đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng), truy thu của bị cáo Hà T10 Nhớ 1.400.000 đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng).

  5. Về án phí: Các bị cáo Lê Thanh HH Nhớ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xbvxd
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger