|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-ST
Ngày 29 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.
2. Ông Giáp Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Khánh Ly, Thư ký Toà án nhân dân huyện
Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà:
Ông Vi Văn Cảnh, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST- HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Mạnh H1), sinh năm 1991 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 31/7/2009, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 475.000 đồng về hành vi “Dùng thủ đoạn để buộc người khác đưa tài sản” và hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2010/HS-ST ngày 28/7/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, chấp hành xong án phí ngày 13/12/2010, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2011. Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2012/HS-ST ngày 17/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/5/2013. Bản án hình sự sơ thẩm số: 124/2013/HS-ST ngày 20/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phí và tiền truy thu ngày 07/7/2014, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2020. Bị
cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Chị Nguyễn Hồng N, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Phạm Ngọc V, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Mạnh H3, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Ông Thân Đức P, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Xuân S1, vắng mặt; bà Quách Thị T, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nhận được tin báo của quần chúng nhân khoảng 11 giờ 00 phút ngày 26/3/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn Cao Thượng thành lập tổ công tác kiểm tra tại nhà nghỉ N1, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị C, huyện T. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phòng 304, phát hiện Nguyễn Văn H, đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:
- - Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải Nguyễn Văn H đang mặc: 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng đỏ; 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng.
- - Thu giữ trên tay trái Nguyễn Văn H: 01 (một) mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, trên một mặt bám dính chất màu nâu, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”.
- - Thu giữ trong phòng 304 nhà nghỉ N1: Trên giường ngủ 01 (một) chiếc bật lửa gas màu xanh; trên nền gạch trong nhà vệ sinh 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu xanh, trên nắp gắn các đoạn ống hút nhựa.
- - Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng, màn hình có vết nứt vỡ, số IMEI1: 354814095255770, IMEI2: 354815095255777, lắp sim 0968.784.648 và sim 0793.275.667 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “ĐT H”; 01 (một) chiếc xe mô tô Wave màu xanh, biển kiểm soát 19L5-4755, số khung: RLHHC09087Y360447, số máy: HC09E-5460421.
Tổ công tác tiến hành niêm phong số vật chứng nghi là ma túy, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn H về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nhà nghỉ N1 và nơi ở của Nguyễn Văn H, tổ dân phố C, thị trấn C, huyện T nhưng không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với H, kết quả xét nghiệm thể hiện H dương tính với ma túy M (H) và M1 (M2).
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang như sau: Khoảng 08 giờ ngày 26/3/2024, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19L5-4755 đi đến nhà người đàn ông tên S2 ở xã N để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, H dừng xe ở cổng phụ phía sau nhà và gọi “Bác S2 ơi” thì có 01 người đàn ông đi từ trong nhà ra đứng ở bên trong cổng, H không quan sát được hình dáng người đàn ông do cổng được bịt kín bằng tôn, H đưa 150.000 đồng vào bên trong qua lỗ nhỏ trên cổng thì người bên trong cầm tiền, sau đó đưa ra 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong đựng 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng đỏ (ma túy tổng hợp hồng phiến), 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (ma túy đá) và một mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc. H cầm túi ma túy và giấy bạc mua được điều khiển xe về nhà nghỉ N1 thuê phòng số 304, mua một chai nước ngọt. Khoảng 11 giờ cùng ngày, H ngồi trên giường sử dụng hết chai nước ngọt rồi bỏ nắp, sau đó dùng nắp chai khác đã được gắn các đoạn ống hút (H đem theo từ trước) lắp vào chai để làm dụng cụ sử dụng ma túy. H lấy một viên ma túy hồng phiến và một ít ma túy đá vừa mua được để vào mảnh giấy bạc, hàn kín đoạn ống nhựa đựng ma túy đá lại để trên giường. Lúc này, H dùng bật lửa hơ nóng mảnh giấy bạc đựng ma túy và sử dụng bằng cách hút qua chai nhựa. Khi đang sử dụng, thấy có người gõ cửa nên H
đã cất túi nilon đựng viên hồng phiến và đoạn ống nhựa đựng ma túy đá vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, cất chai nhựa sử dụng ma túy vào trong nhà vệ sinh, cầm mảnh giấy bạc đựng ma túy đang sử dụng dở trên tay trái để đi ra mở cửa thì bị tổ công tác của Công an huyện T kiểm tra, phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên. H còn khai nhận trước khi bị bắt khoảng 5 đến 6 ngày có mua 01 gói ma túy Heroine với số tiền 100.000 đồng của 01 người đàn ông không quen biết ở bãi đất trống đổ rác thải khu đô thị A, thị trấn C, huyện T để sử dụng.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn H khai ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thì trước đó Nguyễn Văn H còn thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe máy điện tại cửa hàng Ă ở khu đô thị A, tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T cụ thể như sau: Khoảng 03 giờ ngày 25/3/2024, H đi bộ qua cửa hàng Ă ở lô S đường N, khu đô thị A, tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T phát hiện cửa không đóng, trong cửa hàng có 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Latina, màu cam, của gia đình chị Nguyễn Hồng N, nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. H tiến đến khu vực cửa phát hiện có lắp camera an ninh nên đã cởi chiếc quần dài đang mặc ra chùm lên đầu mục đích để tránh bị phát hiện, rồi mở cửa đi vào trong cửa hàng, lục tìm thì lấy được 01 chùm chìa khóa ở bàn quầy. Lúc này, nhìn thấy xe máy điện có cắm chìa khóa ở ổ khóa, H để lại chùm chìa khóa vừa lấy được, đi đến nơi để xe máy điện dùng hai tay dắt xe máy điện ra bên ngoài rồi khép cửa lại. Sau khi lấy trộm được xe, H điều khiển xe đến nhà ông Thân Đức P ở thôn C, xã N, huyện T để lấy lại chiếc xe mô tô BKS 19L5-4755 đã cầm cố trước đó và cầm cố chiếc xe điện lấy số tiền 4.000.000 đồng, ông P đồng ý, H viết giấy vay số tiền 4.000.000 đồng để lại xe máy điện. Tuy nhiên, khi đưa tiền ông P giữ lại 400.000 đồng đề phòng rủi ro nên chỉ đưa cho 3.600.000 đồng, sau khi cầm cố được xe máy điện, H điều khiển xe mô tô về nhà. Đến sáng ngày 26/3/2024, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19L5-4755 đi xuống xã N, huyện T mua 150.000 đồng tiền ma túy, sau đó về thuê phòng 304 nhà nghỉ N1 sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang. Số tiền cầm cố xe H đã ăn tiêu cá nhân hết.
Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho H xác định hiện trường, kết quả, H xác định đúng vị trí đã trộm cắp xe máy điện là tại cửa hàng Ă lô số A đường N, khu đô thị A, tổ dân phố Đ, thị trấn C của chị Nguyễn Hồng N. Sau khi được Cơ quan điều tra thông báo bắt được đối tượng trộm cắp xe máy điện, ngày 28/3/2024, chị Nguyễn Hồng N làm đơn trình báo Công an huyện T đồng thời giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa DVD-R lưu trữ 04 file video trích xuất từ camera
an ninh của gia đình ghi lại hình ảnh diễn hành vi H trộm cắp xe mô tô. Cùng ngày 28/3/2024, ông P giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Latina, 01 đĩa DVD-R lưu giữ file video diễn biến hành vi H đem xe máy điện đến cầm cố vào ngày 25/3/2024 và 01 Giấy vay tiền đề ngày 25/3/2024 thể hiện người vay tiền là Nguyễn Văn H.
Tại Kết luận giám định số: 707/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:
- - Chất màu nâu bám dính trên một mặt mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, có khối lượng là 0,019 gam, loại Methamphetamine;
- - 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 0,081 gam, loại Methamphetamine;
- - Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu là ma túy có khối lượng 0,068 gam, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 12/KL-ĐGTS ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe máy điện nhãn hiệu Latina, màu cam, sản xuất năm 2022, xuất sứ Việt Nam, điện áp 60V, công suất 800W có giá 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng).
Ngày 20/6/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định 05 file video do chị N và ông P giao nộp có bị cắt ghép, chỉnh sửa không? Tại Kết luận giám định số: 1369/KL-KTHS ngày 22/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung, hình ảnh trong các file video gửi giám định. Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 Sổ tiếp nhận lưu trú của ông Nguyễn Văn Đ, là chủ nhà nghỉ N1. Ngày 01/4/2024, Cơ quan điều tra tạm giữ của H 01 quần dài bằng vải màu xám, loại quần chun, có dây rút.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành cho ông P nhận dạng H qua ảnh. Kết quả nhận dạng, ông P nhận ra Nguyễn Văn H chính là đối tượng đã đem xe máy điện đến cầm cố ngày 25/3/2024. Ngày 03/4/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Văn H quan sát hình ảnh được trích xuất từ camera an ninh do chị N giao nộp. Kết quả, H xác định người trong ảnh chính là H thực hiện hành vi trộm cắp xe của gia đình chị N ngày 25/3/2024. Ngày 23/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho H quan sát hình ảnh trích xuất từ camera an ninh do ông P giao nộp. Kết quả, H xác định người trong ảnh chính là H đem xe máy điện trộm cắp được đến cầm cố cho ông P ngày 25/3/2024.
Quá trình điều tra xác định tài liệu nhân thân trước đây của Nguyễn Văn H đều có tên là Nguyễn Mạnh H1. Do có sự mâu thuẫn về tên đệm của H1 nên Cơ quan điều tra đã thu thập danh bản, chỉ bản của H1 đã lập trước ở để trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số: 1026/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Dấu vân in trên các danh bản, chỉ bản bản sao gửi giám định (ký hiệu A1, A2, A3, A4) so với dấu vân in trên danh bản, chỉ bản mẫu so sánh (ký hiệu M) là của cùng một người.
Tại bản cáo trạng số: 49/CT-VKS-TY ngày 10/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 14 (mười bốn) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt từ 24 (hai tư) tháng đến 28 (hai tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Trả bị cáo H 01 phong bì ký hiệu “ĐT H” bên trong có 01 điện thoại di động Samsung màu đen, màn hình có vết nứt vỡ số IMEI1 354814095255770, IMEI2 354815095255777, lắp sim số 0968.784.648 và 0793.275.667 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc; Mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,069 gam; Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu là ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,052 gam; 01 bật lửa gas; 01 chai nhựa và 01 chiếc quần dài.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn H trình bày: Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Về việc người tham gia tố tụng vắng mặt: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu, do vậy không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 26/3/2024 tại phòng 304 nhà nghỉ N1, địa chỉ tổ dân phố Đ, thị C, huyện T bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Tổ công tác của Công an huyện T và Công an thị trấn C bắt quả tang. Khoảng 03 giờ ngày 25/3/2024, tại cửa hàng Ă lô số A đường N, khu đô thị A, tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của gia đình chị Nguyễn Hồng N trong việc quản lý tài sản, lén lút thực hiện trộm cắp chiếc xe máy điện thực hiện trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Latina, màu cam.
Căn cứ vào hành vi mua ma tuý về sử dụng và khối lượng chất ma tuý sau khi giám định trên mảnh giấy bạc có khối lượng là 0,019 gam loại Methamphetamine; 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ là ma túy có khối lượng 0,081 gam loại Methamphetamine; chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu là ma túy có khối lượng 0,068 gam loại Methamphetamine, tổng khối lượng bị cáo tàng trữ là 0,168 gam ma tuý Methamphetamine. Căn cứ vào giá trị chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Lintia bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp sau khi định giá là 7.000.000 đồng. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ sử dụng trái phép chất ma tuý” theo c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đối với hành vi trộm cắp tài sản chưa bị phát hiện, bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội vì ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy kéo dài sẽ bị suy kiệt sức khỏe nghiêm trọng, khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội, người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS, tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Hành vi bị cáo thực hiện trộm cắp tài sản là chiếc xe đạp điện, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, các hành vi bị cáo thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt chính chính về các hành vi “Dùng thủ đoạn để buộc người khác đưa tài sản” và hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã bị xét xử và xử phạt tù về các tội “Cưỡng đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản”, “Mua bán trái phép chất ma túy. Chứng tỏ bị cáo là đối tượng lười lao động, thích hưởng thụ, rất coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo cách ly ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, sống có ích do gia đình và xã hội. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma tuý tàng trữ, giá trị tài sản chiếm đoạt và nhân thân của bị cáo, hình phạt của bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Đối với tội “Trộm cắp tài sản” cần xem xét xử thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo. Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, Hội đồng xét xử miễn phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo sáng ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra đã cho bị cáo xác định vị trí, kết quả là khu vực cổng nhà ông Nguyễn Văn C. Tiến hành xác minh xác định gia đình ông C không có ai tên là S2, các thành viên trong gia đình ông C xác định không ai có hành vi bán ma tuý cho bị cáo. Bị cáo cho rằng màu sơn cổng khi xác định hiện trường khác với màu sơn cổng thời điểm bị cáo mua ma túy, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để khám xét nơi ở của ông Nguyễn Văn C. Ngoài lời khai của bị cáo thì không có cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh người trong gia đình ông C bán ma túy, do vậy không xác định được người bán ma túy cho bị cáo là ai, ở đâu để xử lý.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ở bãi đất trống đổ rác thải khu đô thị A, thị trấn C, huyện T, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không xác định được người bán ma túy cho bị cáo là ai, ở đâu nên không có căn cứ xem xét xử lý.
Đối với ông Thân Đức P, khi nhận cầm cố của bị cáo chiếc xe đạp điện ông P không biết bị cáo có được chiếc xe trên là do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý đối với ông P về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với hành vi bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/3/2024 ở nhà nghỉ N1 và hành vi sử dụng ma túy tại khu vực bãi đất trống, khu đô thị A, thị trấn C, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến để Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với ông Nguyễn Văn Đ chủ nhà nghỉ N1, quá trình điều tra xác định khi cho bị cáo thuê phòng, không ghi thông tin của bị cáo vào sổ lưu trú theo quy định, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển tài liệu liên quan đến để Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
Đối với chiếc xe máy điện bị cáo trộm cắp được, quá trình điều tra xác định đây là tài sản chung của vợ chồng chị Nguyễn Hồng N, anh Phạm Ngọc V, ngày 15/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho vợ chồng chị N quản lý, sử dụng.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19L5-4755, kết quả tra cứu đăng ký xác định bà Nguyễn Thị G là chủ sở hữu chiếc xe trên, tuy nhiên bà G đã bán từ năm 2018, anh Nguyễn Mạnh H3 khai năm 2018 mua chiếc xe này. Quá trình sử dụng, anh H3 cho bị cáo mượn xe để đi lại. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, ngày 23/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh H3 quản lý, sử dụng.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại chị Nguyễn Hồng N đã nhận lại tài sản là chiếc xe máy điện và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Thân Đức P không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 3.600.000 đồng mà bị cáo đã cầm cố xe đạp điện, nên không đặt ra xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu đen, màn hình có vết nứt vỡ số IMEI1 354814095255770, IMEI2 354815095255777, lắp sim số 0968.784.648 và 0793.275.667 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong bằng hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B bên trong có 01 (một) mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc; mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ là ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,069 gam; mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu là ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,052 gam; 01 (một) chiếc bật lửa ga màu xanh; 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu xanh, trên nắp gắn các đoạn ống hút nhựa là ma tuý bị cáo mua về sử dụng và vật dụng bị cáo sử dụng hút ma tuý; 01 (một) thùng cát tông ký hiệu “Quần Hiếu” bên trong có 01 chiếc quần dài màu xám, loại quần chun có dây rút là chiếc quần bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tại phiên toà bị cáo không có yêu cầu nhận lại chiếc quần này, xét thấy chiếc quần không có giá trị sử dụng. Nên cần tịch thu các vật chứng nêu trên để tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ cứ điểm c, khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Mạnh H1) 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội, bị cáo phải chịu hình phạt là 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024.
- - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về vật chứng:
- - Trả bị cáo Nguyễn Văn H 01 phong bì ký hiệu “ĐT H” bên trong có 01 điện thoại di động Samsung màu đen, màn hình có vết nứt vỡ số IMEI1 354814095255770, IMEI2 354815095255777, lắp sim số 0968.784.648 và 0793.275.667 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong bằng hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B bên trong có 01 (một) mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc; mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ là ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,069 gam; mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu là ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,052 gam; 01 (một) chiếc bật lửa ga màu xanh; 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu xanh, trên nắp gắn các đoạn ống hút nhựa là ma tuý bị cáo mua về sử dụng và vật dụng bị cáo sử dụng hút ma tuý; 01 (một) thùng cát tông ký hiệu “Quần Hiếu” bên trong có 01 chiếc quần dài màu xám, loại quần chun có dây rút là chiếc quần bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tại phiên toà bị cáo không có yêu cầu nhận lại chiếc quần này, xét thấy chiếc quần không có giá trị sử dụng. Nên cần tịch thu các vật chứng nêu trên để tiêu hủy.
(Vật chứng của vụ án như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên.)
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Huy Biên |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý và trộm cắp tài sản
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngày 26/3/2024 tại phòng 304 nhà nghỉ N1, địa chỉ tổ dân phố Đ, thị C, huyện T bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý
