|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-ST
Ngày: 28-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Néang Sâm Bô
Bà Chế Thị Hồng Cẩm
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thái Hòa – Kiểm sát Viên
Ngày 28-8-2024, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST – HS, ngày 14-8-2024, Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST – HS ngày 15-8-2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu D, sinh ngày 10-10-2003, tại huyện T, tỉnh An Giang
Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tứ Ân H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị P; bị cáo là con duy nhất; chưa có vợ con; tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27-5-2024 đến nay, bị cáo có mặt.
Bị hại: Ông Tô Văn M, sinh năm 1968; nơi cư trú: khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của ông M: Ông Tô Tứ H, sinh năm 1997; nơi cư trú: khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Lê Minh T, sinh năm 2003; nơi cư trú: khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Bà Ôn Bích N, sinh năm 2002; nơi cư trú: khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang Giang, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Phạm Hoàng T1, vắng mặt; ông Lê Tấn V, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28-01-2024, Nguyễn Hữu D điều khiển xe mô tô biển số 67N1 - 284.98 lưu thông tuyến đường A, hướng từ Ban Chỉ huy Quân sự thị trấn B – Công an thị trấn B. Khi đến đoạn ngã tư giao nhau với đường chưa đặt tên (không có vòng xuyến), thuộc khóm A, thị trấn B, D điều khiển xe thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe mô tô 68B1 - 118.23 do Tô Văn M điều khiển đi từ hướng bên phải (theo chiều xe của D), dẫn đến phần đầu xe mô tô của D va chạm với phần đầu cung chắn bùn trước xe mô tô của ông M, hậu quả làm 02 xe mô tô ngã xuống đường, ông M được mọi người đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu, đến ngày 29-01-2024, ông M tử vong.
Ngày 27-5-2024, Nguyễn Hữu D bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Vật chứng thu giữ: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] tên Nguyễn Hữu D
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 21 ngày 29/01/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh A, ghi nhận: Tử thi Tô Văn M, sinh năm 1968;
Dấu hiệu chính qua giám định: Nguyên nhân chết do chấn thương sọ não nặng.
Căn cứ Biên bản về việc kiểm tra nồng độ cồn người tham gia giao thông ngày 21/8/2024 của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T, ghi nhận: Nguyễn Hữu D sinh năm 2003, cư trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, nồng độ cồn 0,000 mg/l khí thở.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, ông Tô Tứ H đã nhận tiền hỗ trợ 13.500.000 đồng, yêu cầu bị cáo D bồi thường thêm chi phí điều trị, mai táng, tổn thất tinh thần 20.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định.
Bản cáo trạng số 54/CT-VKSTT ngày 13-8-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố Nguyễn Hữu D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có chức vụ, hành nghề và nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Tô Tứ H đã nhận tiền hỗ trợ 13.500.000 đồng, ông H yêu cầu bồi thường thêm số tiền 20.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường, đây là sự tự nguyện của bị cáo và phù hợp với pháp luật, đề nghị công nhận.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...]. Đây là giấy phép hợp pháp của bị cáo, đề nghị áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
- Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Hữu D đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, cũng như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện, kết luận giám định thương tích, biên bản kiểm tra nồng độ cồn và các chứng cứ khác thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28-01-2024, tại tuyến đường A thuộc khóm A, thị trấn B, huyện T, bị cáo Nguyễn Hữu D điều khiển xe mô tô biển số 67N1 - 284.98 lưu thông đến đoạn ngã tư giao nhau với đường chưa đặt tên, bị cáo thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe mô tô 68B1 - 118.23 do Tô Văn M điều khiển đi từ hướng bên phải dẫn đến gây tai nạn, hậu quả làm ông M tử vong. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng con người, tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xét xử đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo nhằm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý do cẩu thả. Bị hại không có lỗi trong vụ án này, bị hại điều khiển xe đi đúng phần đường của mình nhưng do bị cáo điều khiển xe đến đoạn đường giao nhau, thiếu chú ý quan sát và không nhường đường cho xe của bị hại đi từ bên phải dẫn đến hậu quả như trên, điều đó cho thấy lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã khắc phục một phần hậu quả, bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại, đại diện bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, nhân thân rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự và là lao động chính trong gia đình nên không cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội cũng đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có chức vụ, hành nghề và nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Tô Tứ H đã nhận tiền hỗ trợ 13.500.000 đồng, ông H yêu cầu bồi thường thêm số tiền 20.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường, đây là sự tự nguyện của bị cáo và phù hợp với pháp luật nên được công nhận.
[6] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...]. Đây là giấy phép hợp pháp của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án 28-8-2024 (ngày hai mươi tám tháng tám năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Giao bị cáo Nguyễn Hữu D cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 591 Bộ luật dân sự;
Công nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho đại diện bị hại ông Tô Tứ H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] đứng tên Nguyễn Hữu D.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-8-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện T).
Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Hữu D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (Một triệu đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Trường hợp vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Hùng |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
