|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 28-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Khúc Thị Minh
- Bà Đặng Thị Đôi
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Uy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn N, sinh ngày 12/6/1983 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Y và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Cao Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 15/HSST ngày 26/02/2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 113/2018/HSST ngày 21/9/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án tích); tại Quyết định số 549/QĐ-UB ngày 13/6/2011 bị UBND huyện K đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm G số 02 thành phố Hải Phòng với thời hạn 24 tháng (đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024; có mặt.
2. Nguyễn Quang T1, sinh ngày 13/01/1990 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị T3; có vợ là Nguyễn Thị T4 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 364/QĐ-XPVPHC ngày 05/02/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K xử phạt về hành vi đánh bạc trái phép (đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Đỗ Kiều H1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Trung H2, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị Cao Thị H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Đỗ Văn C; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 01/02/2024, Nguyễn Quang T1, Nguyễn Trung H2, Nguyễn Thành L, Đỗ Kiều H1 đến nhà Nguyễn Văn N ở thôn K, xã H, huyện K chơi. Khoảng 21 giờ Đặng Văn Đ đến nhà N hỏi mua 600.000 đồng tiền ma túy. N cầm tiền và mang theo điện thoại của chị Cao Thị H (vợ N), đi đến thôn K, xã H mua 01 ống ma túy của người đàn ông không quen biết, với giá 200.000 đồng. Sau đó, N dùng kéo bấm bằng kim loại màu đen, dài khoảng 10cm cắt ống ma túy chia thành 02 đoạn, dùng bật lửa hàn kín lại, rồi gọi điện thoại hẹn Đ đến khu vực bảng tin thôn T, xã H, huyện K để bán cho Đ 01 ống ma túy. Còn lại 01 ống ma túy N cầm về nhà đưa T1 để cả nhóm sử dụng ma túy. Thu nhận ống nhựa chứa ma túy và lấy một chiếc kéo màu đen cắt đầu ống nhựa, đổ ma túy vào ống thủy tinh lấy ở trên mặt bàn uống nước nhà Nam. Sau khi chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy xong, T1 dùng bật lửa hơ ống thủy tinh sử dụng ma túy trước, rồi T1 châm lửa để cho N, H1 sử dụng ma túy, sau đó T1 mời L thì L tự châm lửa sử dụng, Nguyễn Trung H2 không sử dụng ma túy. Các đối tượng sử dụng ma túy đến 22 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện K kiểm tra, phát hiện và thu giữ: 01 hộp nhựa hình trụ tròn kích thước 07x5cm trên nắp có 02 lỗ, 01 ống nhựa dài 25cm (dạng ống hút nước), 01 ống thủy tinh bên trong bám dính chất màu trắng nghi là ma túy niêm phong ký hiệu M1, 01 bật lửa ga có gắn 01 ống kim loại dài 05cm, 01 đoạn ống nhựa dài 2,5cm hàn kín 01 đầu. Ngày 26/02/2024 chị Cao Thị H giao nộp 01 chiếc điện thoại di động loại Oppo; 01 chiếc kéo bằng kim loại màu đen, dài 10cm, bản rộng 5cm mà T1 dùng cắt ống ma túy và 400.000 đồng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn N, nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra truy tìm 01 chiếc kéo bấm bằng kim loại và chiếc bật lửa N dùng để cắt ống ma túy, hàn đầu ống ma túy và điện thoại của Đặng Văn Đ, nhưng không thu được.
Tại Kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Chất màu trắng của mẫu M1 là ma túy loại Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng. Các mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn N, Nguyễn Quang T1, Nguyễn Thành L, Nguyễn Trung H2, Đỗ Kiều H1 đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine”
Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động Oppo cho chị Cao Thị H là chủ sở hữu hợp pháp. Đối với 01 hộp nhựa hình trụ tròn cao 07 cm trên nắp có 02 lỗ, 01 ống nhựa dài 25cm (dạng ống hút nước), 01 chiếc bật lửa gắn 01 đoạn ống bằng kim loại dài 05cm, 01 đoạn ống nhựa dài 2,5cm hàn kín 01 đầu; 01 kéo bằng kim loại màu đen dài 10cm; 01 phong bì niêm phong (bên trong có 01 ống thủy tinh) có dấu niêm phong số 157MT/PC09 và 400.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSKT ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Quang T1 đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Nguyễn Văn N mức án từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Nguyễn Văn N mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 11 năm 06 tháng đến 12 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 02/02/2024.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Nguyễn Quang T1 mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 02/02/2024.
- - Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- + Tịch thu số tiền 600.000 đồng Nguyễn Văn N mua bán ma túy để sung vào ngân sách Nhà nước. Gia đình bị cáo N đã nộp thay số tiền 400.000 đồng, bị cáo N còn phải nộp tiếp 200.000 đồng.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp nhựa hình trụ tròn cao 07 cm trên nắp có 02 lỗ, 01 ống nhựa dài 25cm (dạng ống hút nước), 01 chiếc bật lửa gắn 01 đoạn ống bằng kim loại dài 05cm, 01 đoạn ống nhựa dài 2,5cm hàn kín 01 đầu; 01 kéo bằng kim loại màu đen dài 10cm; 01 phong bì niêm phong (bên trong có 01 ống thủy tinh) có dấu niêm phong số 157MT/PC09.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều đồng ý và không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo nói lời sau cùng đều tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng từ 21 giờ đến 22 giờ ngày 01/02/2024, Nguyễn Văn N đã đi mua 200.000 đồng được 01 ống ma túy Methamphetamine về chia nhỏ thành 02 ống để bán trái phép 01 ống ma túy cho Đặng Văn Đ, với giá 600.000 đồng tại khu vực cổng trào thôn T, xã H, huyện K. Còn lại 01 ống ma túy Nguyễn Văn N cầm về nhà ở thôn K, xã H, huyện K đưa Nguyễn Quang T1 tại phòng khách để cho cả nhóm sử dụng ma túy. Nguyễn Quang Thu nhận ống nhựa chứa ma túy và lấy một chiếc kéo màu đen cắt đầu ống nhựa, đổ ma túy vào ống thủy tinh lấy ở trên mặt bàn uống nước nhà Nam, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy. Nguyễn Quang T1 hơ lửa để bản thân sử dụng ma túy trước, sau đó đưa ống ma túy cho Nguyễn Văn N, Đỗ Kiều H1, Nguyễn Thành L cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn N đã thỏa mãn cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Hành vi của Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang T1 đã thỏa mãn cấu thành đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là phạm tội “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây nên tệ nạn ma túy. Cần xử phạt nghiêm đối với các bị cáo.
[4] Về đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án:
[4.1] Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: 02 bị cáo đều có sự nhất trí, cố ý cùng thực hiện tội phạm, nhưng không có sự bàn bạc từ trước và
phân công thực hiện tội phạm, không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Vì vậy, đây thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Nguyễn Văn N là người cung cấp ma túy, địa điểm để các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên có vai trò cao hơn. Nguyễn Quang T1 tiếp nhận ý chí từ N, thực hành tích cực, là người lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, đổ ma túy vào ống thủy tinh để cho bản thân và Nguyễn Văn N, Đỗ Kiều H1, Nguyễn Thành L cùng sử dụng trái phép chất ma túy, nên T1 có vai trò thấp hơn N.
[4.2] Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”: Bị cáo Nguyễn Văn N có vai trò độc lập trong vụ án.
[5] Về nhân thân:
[5.1] Bị cáo Nguyễn Văn N bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết án tại Bản án số 15/HSST ngày 26/02/2003, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh kết án tại Bản án số 113/2018/HSST ngày 21/9/2018, xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đều đã được xóa án tích); bị Ủy ban nhân dân huyện K đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 549/QĐ-UB ngày 13/6/2011 ở Trung tâm G 02 thành phố Hải Phòng với thời hạn 24 tháng (đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
[5.2] Bị cáo Nguyễn Quang T1 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K xử phạt tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 364/QĐ-XPVPHC ngày 05/02/2021 về hành vi đánh bạc trái phép (đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo Nguyễn Quang T1 có bố mẹ đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bị cáo Nguyễn Văn N đã tác động gia đình tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính 400.000 đồng. Do đó, bị cáo T1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với cả hai tội và được hưởng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[8] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo; vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt nghiêm đối với các bị cáo,
buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo; đồng thời để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu số tiền 600.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn N đã nhận từ Đặng Văn Đ để mua bán trái phép chất ma túy sung vào ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo N đã tác động gia đình nộp lại 400.000 đồng, bị cáo N còn phải nộp tiếp 200.000 đồng. Đối với 01 hộp nhựa hình trụ tròn cao 07 cm trên nắp có 02 lỗ, 01 ống nhựa dài 25cm (dạng ống hút nước), 01 chiếc bật lửa gắn 01 đoạn ống bằng kim loại dài 05cm, 01 đoạn ống nhựa dài 2,5cm hàn kín 01 đầu; 01 kéo bằng kim loại màu đen dài 10cm; 01 phong bì niêm phong (bên trong có 01 ống thủy tinh) có dấu niêm phong số 157MT/PC09 là công cụ, phương tiện phạm tội; cần tịch thu tiêu hủy.
[11] Trong vụ án này, chị Cao Thị H không biết Nguyễn Văn N sử dụng điện thoại để bán ma túy, không biết các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy ở nhà mình, nên không bị xử lý. Cơ quan điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người bán ma túy cho N, nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Quá trình điều tra xác định, ngày 31/01/2024 Nguyễn Trung H2 đã sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine; đối với số ma túy mua của Nguyễn Văn N ngày 01/02/2024 Đặng Văn Đ đã sử dụng một mình hết; Nguyễn Thành L, Đỗ Kiều H1 sử dụng ma túy ngày 01/02/2024 tại nhà N. Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H2, Đ, L, H1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng pháp luật.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng thêm Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quang T1;
- Tuyên bố:
- + Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- + Bị cáo Nguyễn Quang T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- Xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn N chấp hành hình phạt chung của hai tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 02/02/2024.
- + Bị cáo Nguyễn Quang T1 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 02/02/2024.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- + Tịch thu số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Văn N để sung vào ngân sách Nhà nước. Gia đình bị cáo N đã nộp thay 400.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn N còn phải nộp tiếp 200.000 đồng (theo ủy nhiệm chi tại kho bạc nhà nước huyện K ngày 02/8/2024).
- + Tịch thu tiêu hủy 01 hộp nhựa hình trụ tròn cao 07 cm trên nắp có 02 lỗ, 01 ống nhựa dài 25cm (dạng ống hút nước), 01 chiếc bật lửa gắn 01 đoạn ống bằng kim loại dài 05cm, 01 đoạn ống nhựa dài 2,5cm hàn kín 01 đầu; 01 kéo bằng kim loại màu đen dài 10cm; 01 phong bì niêm phong (bên trong có 01 ống thủy tinh) có dấu niêm phong số 157MT/PC09 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
- - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- - Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Khúc Thị Minh | Phạm Thị Ngà |
| Đặng Thị Đôi |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngà |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N
