Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-ST
Ngày: 28/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Sang
2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu
Thư ký phiên tòa: Bà Châu Thị Phượng Liên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/HSST ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 14/8/2023 đối với bị cáo:

Hồ Quốc Đ, sinh ngày 06/7/2005; Tại rà Vinh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm 3, phường 1, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh; Nơi tạm trú: ấp Trì Phong, xã Hòa L, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Thiên L, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 1982; chưa có vợ con; Tiền sự: không có; Tiền án: không có; Nhân thân: tốt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Quốc Đ là ông Diệp Minh Tr là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh (xin vắng mặt).

- Người bị hại: Thạch Sơn Ngọc Qu, sinh ngày 12/5/2007 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp Trì Phong, xã Hòa L, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh

Người đại diện hợp pháp của Thạch Sơn Ngọc Qu: bà Thạch Thị Kiều O1, sinh năm 1980, trú tại ấp Trì Phong, xã Hòa L, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trình Quốc T, sinh năm 1983. (vắng mặt)
    Địa chỉ: số W, Đồng Khởi, khóm R, phường 6, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
  2. Bà Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 1982 (có mặt)
    Địa chỉ: ấp Trì Phong, xã Hòa L, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Hồ Quốc Đ và Thạch Sơn Ngọc Qu sinh ngày 12/6/2007, nơi cư trú ấp Qui Nông A, xã Hòa L, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh là bạn bè quen biết, Qu thường sử dụng xe mô tô biển số 84D1-309.95 của gia đình đi chơi cùng với bị cáo Đ. Do không có nghề nghiệp và cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 15 giờ ngày 05/3/2023, Đ nảy sinh ý định mượn xe mô tô của Qu đem đi cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đã gọi điện thoại cho Qu và hỏi mượn xe đi công việc. Vì quen biết nên Qu đồng ý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Qu điều khiển xe mô tô biển số 84D1-309.95 đến nhà của bị cáo Đ tại ấp Trì Phong, xã Hòa L, huyện Châu Thành cho Đ mượn. Sau khi nhận xe từ Qu, bị cáo Đ điều khiển xe đến cửa hàng cầm đồ Thảo V 2 thuộc khóm 8, phường 6, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh cầm xe cho anh Trình Quốc T, sinh ngày 30/4/1983 là chủ cửa hàng cầm đồ Thảo V 2 với số tiền 5.000.000 đồng, số tiền cầm xe Đ tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 06/3/2023, bà Thạch Thị Kiều O1 là mẹ của Thạch Sơn Ngọc Qu đến Công an xã Hòa L tố giác bị cáo Đ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-ĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh kết luận: 01 xe mô tô hai bánh biển số 84D1-309.95 nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: xanh-bạc, số khung RLHJA3927NY497872, số máy JA39E2952934 với số tiền 12.833.000 đồng.

Việc anh Trình Quốc T là người đã nhận cầm xe mô tô biển số 84D1-309.95 từ Đ, anh T không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh T.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành tạm giữ và trao trả: 01 xe mô tô hai bánh biển số 84D1-309.95 nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: xanh-bạc cho chủ sở hữu bà Thạch Thị Kiều O1.

Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKS.HS ngày 03/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Hồ Quốc Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Quốc Đ thừa nhận nội dung cáo trạng đã nêu là đúng hành vi của bị cáo là do không có tiền tiêu xài, nên vào khoảng 16 giờ ngày 15/3/2023 tại ấp Trì Phong, xã Hòa L, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, lợi dụng sự quen biết với Thạch Sơn Ngọc Qu, bị cáo đã mượn xe mô tô biển số 84D1-309.95 của Qu nói là đi công việc, nhưng bị cáo đem xe đi cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân tại cửa hàng cầm đồ Thảo V 2 với số tiền 5.000.000 đồng. Bị cáo không có khiếu nại gì về nội dung cáo trạng.

Người bào chữa cho bị cáo xin vắng mặt tại phiên tòa và gửi luận cứ nêu ý kiến bào chữa như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Trình Quốc T 5.000.000đ tiền cầm xe cho bị cáo.

Quan điểm của vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh: tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng như các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với kết quả điều tra. Tại phiên tòa hôm nay viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng. Kiểm sát viên đã phân tích đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 174, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hồ Quốc Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo cùng với mẹ ruột là Nguyễn Thị Ánh L bồi thường cho ông Trình Quốc T 5.000.000đồng. Ngoài ra, Vị kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định và hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu được có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 16 giờ ngày 15/3/2023 tại ấp Trì Phong, xã Hòa L, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, lợi dụng sự quen biết với Thạch Sơn Ngọc Qu, bị cáo Hồ Quốc Đ nảy sinh ý định mượn xe mô tô biển số 84D1-309.95 của Qu đem đi cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân, nên bị cáo Đ đã hỏi mượn xe của Qu để đi công việc nhưng sau đó bị cáo Đ điều khiển xe đến cửa hàng cầm đồ Thảo V 2 cầm xe với số tiền 5.000.000 đồng tiêu xài hết cho cá nhân bị cáo. Qua định giá xe mô tô biển số 84D1-309.95 có giá trị 12.833.000 đồng.

Do đó đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hồ Quốc Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình như kết luận của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét thấy tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa thành niên, nhưng đã đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng do bị cáo tham lam, lười lao động, muốn có được tiền tiêu xài không cần lao động, mà đã lợi dụng sự tin tưởng của em Qu chiếm đoạt tài sản của em Qu cầm cố lấy tiền tiêu xài cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác một cách trái pháp luật được pháp luật hình sự bảo vệ với lỗi cố ý trực tiếp. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo sau này trở thành người tốt cho xã hội, vừa răn đe phòng ngừa chung cho xã hội, có như vậy mới phục vụ tốt tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhân thân tốt. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nên Hội đồng xét xử đã có cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo cùng với mẹ ruột là Nguyễn Thị Ánh L cùng bồi thường cho ông Trình Quốc T 5.000.000đồng.

[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong.

[6] Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo Hồ Quốc Đ phải chịu phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bà Nguyễn Thị Ánh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Quốc Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Quốc Đ cùng với bà Nguyễn Thị Ánh L cùng bồi thường cho ông Trình Quốc T 5.000.000đồng (năm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong.

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hồ Quốc Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, buộc bà bà Nguyễn Thị Ánh L phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND H.Châu Thành;
  • - CC THADS H.Châu Thành;
  • - Sở tư pháp tỉnh TV;
  • - NTG CA H.Châu Thành;
  • - Công an H.Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNTÒA

Nguyễn Phú Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 54/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger