TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-ST
Ngày 28-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lã Anh Tuấn
Bà Hoàng Thị Chính.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Hoàng Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an thành phố H, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 22/6/1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A phố H, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng P và bà Phạm Thị Hồng H1; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 02/02/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Ngô Thế H2; vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Vũ Thị Thu T – Công chức Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Thị Thu H một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 15AA - 318.86 đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy đá (01 gói giấy bên trong có 01 túi nilon kích thước 6,5x4cm) với giá 1.000.000 đồng. H cất giấu túi ma túy vào trong áo lót ngực phía bên trái H đang mặc. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H đi xe điện đến khu vực vườn hoa Trần Quốc T1 thuộc tổ T, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phát hiện, kiểm tra bắt giữ và thu giữ số ma túy nêu trên. Ngoài ra, còn thu giữ của H 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 15AA - 31886.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Thu H tại số A phố H, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản gì.
Tại bản kết luận giám định số 147/KL-KTHS(MT) ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,96 gam, loại: Methamphetamine".
Ngày 30/01/2024 Phòng K Công an thành phố H tiến hành test thử đối với Nguyễn Thi Thu H3, kết quả: “âm tính với test thử các chất ma túy”.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thi Thu H3 khai nhận phù hợp nội dung trên. Mục đích H3 cất giữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân. Số tiền 1.000.000 đồng H3 sử dụng để mua ma túy là do H3 lao động mà có. Đối với chiếc xe mô tô, biển kiểm soát: 15AA-31886 có số khung RRWVCBXHVPS003821, số máy DK1P38QMB*230709632* là số nguyên thủy, không phát hiện có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa ký tự. Quá trình xác minh xác định chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng và mang tên chủ đăng ký xe là Nguyễn Thị Thu H.
Tại bản cáo trạng số 56/CT- VKSKA ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Thị Thu H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội và xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì của mẫu vật được dán kín niêm phong trong một phong bì thư có dấu niêm phong số 147MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H.
Trả lại bị cáo 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 15AA – 31886.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với xã hội, làm lại cuộc đời, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 30/01/2024, tại khu vực lòng đường Trần Nhân T2, trước vườn hoa Trần Quốc T1 thuộc tổ T, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Thị Thu H có hành vi cất giữ trái phép 1,96 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Căn cứ vào khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ và các tình tiết khác của vụ án xác định bị cáo đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân: Xét nhân thân bị cáo thấy không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét vấn đề này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[8] Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên, căn cứ quy định pháp luật hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thích hợp và cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật.
[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện, bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Methamphetamine là chất ma túy cấm lưu hành; vì vậy, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 147MT/PC09 bên trong có chứa chất Methamphetamine, là phần còn lại sau giám định.
Đối với chiếc xe mô tô, biển kiểm soát: 15AA-31886 có số khung RRWVCBXHVPS003821, số máy DK1P38QMB*230709632* là số nguyên thủy, không phát hiện có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa ký tự. Quá trình xác minh xác định chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng và mang tên chủ đăng ký xe là Nguyễn Thị Thu H. Hội đồng xét xử thấy chiếc xe này chỉ là phương tiện để bị cáo đi lại, không liên quan trực tiếp đến việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên không tịch thu, nộp ngân sách nhà nước mà trả lại cho bị cáo.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Đối với người đàn ông bán ma túy cho H tại khu vực T, quận L, thành phố Hải Phòng vào chiều ngày 30/01/2024, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì của mẫu vật được dán kín trong 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 147MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H.
- - Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Thu H 01xe mô tô, biển kiểm soát: 15AA-31886, nhãn hiệu DK MOTOR số khung RRWVCBXHVPS003821, số máy DK1P38QMB*230709632*.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bình |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H - Tàng trữ ma túy
