|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2023/HS-ST Ngày: 27-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan
- Các Hội thẩm nhân dân
Bà Võ Thị Thơ – Ông Hà Văn Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Ông Tài Đại Diện - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 1 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Phạm Đại Đ, sinh ngày 19-10-2003 tại Ninh Thuận.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: Làm nghề biển; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Phạm Đại P, sinh năm: 1977 và bà Phạm Thị Bích H, sinh năm 1986; Vợ, Con: Chưa có.
Nhân thân: Không.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Phạm Đại Đ hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đại Đ: Luật sư Nguyễn Hồng G thuộc Văn phòng L2 – Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường B, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Đại P, sinh năm: 1977. (có mặt)
- Ông Võ Xuân L, sinh năm: 1968. (có mặt)
Trú tại: Thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Trú tại: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 3-2023, khi bị cáo Phạm Đại Đ đi câu cá bằng Thúng ở vùng biển H thuộc thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bị cáo đã gặp một người đàn ông tên S (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Qua trò chuyện với người đàn ông này, bị cáo Đ biết được sử dụng thuốc nổ sẽ đánh bắt được nhiều cá hơn và người đàn ông này có bán thuốc nổ nên bị cáo Đ đã hỏi mua thuốc nổ của S, do không có thuốc nổ nên S hẹn khi nào có sẽ bán cho bị cáo Đ. Khoảng hai ngày sau, bị cáo Đ tiếp tục đi câu cá bằng Thúng ở vùng biển H thì gặp lại người đàn ông tên S, bị cáo Đ hỏi mua thuốc nổ thì được ông S bán cho 08 cục thuốc nổ và 02 kíp nổ với giá 1.600.000 đồng. Sau khi mua được thuốc nổ, bị cáo Đ đem cất giấu tại khoang máy tàu cá NT- 90951-TS do bị cáo Đ làm thuyền trưởng.
Đến khoảng tháng 7-2023, bị cáo Đ đi T ra khu vực biển H và sử dụng hết 02 cục thuốc nổ và 02 kíp nổ để đánh bắt hải sản, còn lại 06 cục thuốc nổ do không có kíp nổ sử dụng nên bị cáo Đ tiếp tục cất giấu tại khu vực buồng máy của tàu cá NT- 90951-TS.
Lúc 08 giờ 30 phút ngày 26-8-2023, Tổ tuần tra của Đồn Biên phòng V thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh N tiến hành kiểm tra phương tiện tàu cá NT-90951-TS đang neo đậu tại Vịnh V thì phát hiện trong buồng máy của tàu có 01 túi nylon màu đen chứa 06 cục thuốc nổ nói trên.
Tại Kết luận giám định số 1023/KL-KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: “Chất dẻo màu vàng gửi giám định có tổng khối lượng 1478,69 gam đều là thuốc nổ nhũ tương. Thuốc nổ nhũ tương là loại thuốc nổ công nghiệp thường dùng để phá đá, mở đường...”.
Công văn số 612/CV-PC09 ngày 08-9-2023 của Phòng K Công an tỉnh L trả lời Công văn số 245/ANĐT ngày 06-9-2023 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N như sau: “1478,69 gam chất dẻo màu vàng nhạt gửi giám định là thuốc nổ nhũ tương đều còn sử dụng được”.
Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành rà soát và cho Phạm Đại Đ nhận dạng qua ảnh người đàn ông tên S đã bán thuốc nổ cho Đ, kết quả: Trong số những ảnh được nhận dạng, không có người nào đã bán thuốc nổ cho Đ.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Đại Đ theo Cáo trạng số 14/CT-VKSNT-P1 ngày 16-11-2023, Đại diện Viện Kiểm sát rút tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điêu 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Đại Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
- Áp dụng khoản 1 Điêu 305; điểm b khoản 1, khoản 2 Điêu 51, Điêu 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Đại Đ.
Xử phạt bị cáo Phạm Đại Đ từ 12 (Mười hai) tháng tù đến 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
- Vê biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điêu 47 BLHS, Điêu 106 BLTTHS.
Đối với người đàn ông tên S đã bán thuốc nổ cho bị cáo Đ, hiện nay Cơ quan An ninh điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với tàu cá NT-90951-TS là tài sản thuộc sở hữu của ông Võ Xuân L và Phạm Đại P do ông Võ Xuân L đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá. Bị cáo Đ cất giấu thuốc nổ trên tàu, ông L và ông P không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông L và ông P là đúng quy định.
Đối với T mà bị cáo Phạm Đại Đ đã sử dụng để mua thuốc nổ tại biển H, T mang về tàu cá NT-90951-TS cất dấu là tài sản thuộc sở hữu của ông Phạm Đại P và ông Võ Xuân L, ông P và ông L không biết việc Đ sử dụng để mua thuốc nổ nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông P là đúng quy định.
Tại phiên tòa ông L và ông P trình bày không biết việc bị cáo Đ sử dụng tàu cá và T để cất giấu thuốc nổ, Cơ quan An ninh điều tra đã trả lại tàu cá và Thúng nên hai ông không có yêu cầu gì về dân sự. Ông Phạm Đại P trình bày do ông bị bệnh không đi làm được nên đã giao tàu cá cho con trai là bị cáo Đ đi biển, bị cáo Đ là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ và em nhỏ còn đi học.
Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận: Bị cáo Phạm Đại Đ phạm tội khi mới hơn 18 tuổi, bị cáo ít học, gia đình bị cáo có cha mẹ và em nhỏ sống phụ thuộc vào việc đi biển của bị cáo. Bị cáo phạm tội lân đâu, có nhân thân tốt. Luật sư đồng ý quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận, bị cáo nói lời nói sau cùng: Do bị cáo ít học và còn nhỏ tuổi nên không nhận thức rõ mức độ nguy hiểm của việc sử dụng thuốc nổ. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo đi làm biển nuôi cha mẹ và em nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vê hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điêu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận, Kiểm sát viên trong quá trình điêu tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyên, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Kết luận giám định số 1023/KL-KTHS ngày 28-8-2023 và Công văn số 612/CV-PC09 ngày 08-9-2023 của Phòng K Công an tỉnh L, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 26-8-2023, cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng tháng 3-2023, tại khu vực biển H, thuộc thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. bị cáo Phạm Đại Đ đã mua của một người đàn ông tên S (chưa rõ nhân thân, lai lịch) 08 cục thuốc nổ nhũ tương và 02 kíp nổ với giá 1.600.000 đồng, mang về cất giấu trong khoang máy tàu cá NT- 90951-TS của ông Phạm Đại P và ông Nguyễn Xuân L1, tàu cá do Đ làm thuyền trưởng nhằm mục đích đánh bắt hải sản.
Hành vi trên của bị cáo Phạm Đại Đ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 của Bộ luật hình sự 2015; Cáo trạng số 14/CT-VKSNT-P1 ngày 16-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Phạm Đại Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng và các quy định của Nhà nước về quản lý vật liệu nổ, do đó, cần phải xử lý trước pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
[5] Trên cơ sở xem xét nguyên nhân phát sinh tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, khoản 2 Điêu 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, áp dụng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Ý kiến của Luật sư về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Vê biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với 1.402,56 gam thuốc nổ nhũ tương còn lại sau giám định hiện đang tạm giữ tại kho của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Ninh Thuận, giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh N xử lý theo quy định. (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 8 năm 2023)
Đối với người đàn ông tên S bán thuốc nổ cho bị cáo Đ, Cơ quan An ninh điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Đối với tàu cá NT-90951-TS là tài sản thuộc sở hữu của ông Võ Xuân L và Phạm Đại P do ông Võ Xuân L đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá. Bị cáo Phạm Đại Đ cất giấu thuốc nổ trên tàu, ông L và ông P không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.
Đối với T mà bị cáo Phạm Đại Đ đã sử dụng để mua thuốc nổ mang về tàu cá NT-90951-TS cất dấu là tài sản thuộc sở hữu của ông Phạm Đại P và ông Võ Xuân L, ông P và ông L không biết việc bị cáo sử dụng để mua thuốc nổ nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điêu 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51, Điêu 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Đại Đ.
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điêu 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điêu 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Đại Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Xử phạt bị cáo Phạm Đại Đ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án, ngày 27-12-2023.
Giao bị cáo Phạm Đại Đ cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Ninh Thuận nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận xử lý theo quy định đối với 1.402,56 gam thuốc nổ nhũ tương còn lại sau giám định hiện đang tạm giữ tại kho của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Ninh Thuận, (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 8 năm 2023).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 27-12-2023).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thiên Quan |
Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Số bản án: 54/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đại Đ phạm tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ
