|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HNGĐ – ST
Ngày 27 tháng 9 năm 2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lã Hùng Cường.
+ Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt; Ông Đào Huy Dương.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 86/2024/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, về việc hôn nhân và gia đình, theo đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 06/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thu H, sinh năm: 1988 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Bị đơn: Anh Vũ Văn P, sinh năm: 1983 (Vắng mặt).
Cùng ĐKHKTT: Thôn V, xã Đ, thị xã S, TP .;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hà Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn P kết hôn với nhau ngày 17/11/2006 tại Ủy ban nhân dân xã xã T, huyện B, TP . qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại địa chỉ số C ngách A ngõ E thôn V, xã Đ, thị xã S, TP .. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P ham mê cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, con cái. Từ tháng 01/2020 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, hai bên không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh P.
+ Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Vũ Hà Chí Q, sinh ngày 06/12/2007 và cháu Vũ Gia B, sinh ngày 03/10/2012. Hiện hai cháu đang ở với chị H. Nguyện vọng của chị H sau khi ly hôn là được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Chị H yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung với mức 3.000.000 đồng/tháng/01 cháu, tổng là 6.000.000 đồng/tháng/02 cháu.
- Về tài sản chung, công sức chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: Chị H xác định không có.
- Về án phí: Chị H tự nguyện chịu án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.
Bị đơn trong vụ án là anh Vũ Văn P trình bày: Anh có kết hôn với chị Hà Thu H ngày 07/11/2006 tại UBND xã T, huyện B, TP .. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn V, xã Đ, thị xã S, TP .. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng hiện chưa sống ly thân. Nay chị H có yêu cầu giải quyết ly hôn với anh P, anh P xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không nhất trí ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được đoàn tụ.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Vũ Hà Chí Q, sinh ngày 06/12/2007 và cháu Vũ Gia B, sinh ngày 03/10/2012. Nếu chị H kiên quyết ly hôn, anh P có nguyện vọng nuôi dưỡng 01 con chung. Về yêu cầu cấp dưỡng của chị H anh P đồng ý.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh P đề nghị Tòa án kéo dài thời gian giải quyết vụ án để anh có điều kiện dàn xếp với chị H để đoàn tụ.
Tòa án cũng tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh P. Tại Biên bản xác minh ngày 23/8/2024, đại diện thôn V, xã Đ cho biết: Anh P có nơi cư trú tại thôn V, xã Đ, thị xã S, t.p Hà Nội. Chị H có kết hôn với anh Vũ Văn P. Quá trình chung sống, chị H và anh P có phát sinh mâu thuẫn nhưng không yêu cầu đoàn thể, chính quyền địa phương hòa giải, giải quyết nên về nguyên nhân, nội dung mâu thuẫn của anh chị mâu thuẫn chính quyền địa phương không được biết. Anh chị có 02 con chung là cháu Vũ Hà Chí Q, sinh ngày 06/12/2007 và cháu Vũ Gia B, sinh ngày 03/10/2012, hiện các cháu đang ở với chị H. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung của anh chị, chính quyền địa phương không được biết. Nay chị H có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với anh P, đại diện chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án cũng tiến hành lấy lời ý kiến của các cháu Vũ Hà Chí Q và cháu Vũ Gia B. Tại các Bản tự khai ngày 26/7/2024, cháu Q và cháu B đều trình bày nguyện vọng được ở với mẹ sau khi ly hôn.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do anh P không đến Tòa án làm việc nên chị H đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như lời khai và biên bản xác minh.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thu H được ly hôn với anh Vũ Văn P. Về con chung: Có 02 con chung là cháu Vũ Hà Chí Q, sinh ngày 06/12/2007 và cháu Vũ Gia B, sinh ngày 03/10/2012. Giao cháu Q và cháu B cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với anh P. Anh P có quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau khi ly hôn không ai được ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Đề nghị Tòa án không xem xét. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;
[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, bị đơn trong vụ án là anh Vũ Văn P có nơi cư trú tại xã Đ, thị xã S, TP . nên theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, hòa giải, ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn. Ngày 06/9/2024, Tòa án đã mở phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án căn cứ điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 27/9/2024. Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn và bị đơn theo đúng quy định tại Điều 172, 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn có ý kiến xin xét xử vắng mặt
nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thu H và anh Vũ Văn P kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P1 là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống chị H và anh P có phát sinh mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân do anh P không quan tâm đến đời sống gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2020 đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P, anh P không trình bày quan điểm về yêu cầu ly hôn của chị H bằng văn bản tại Tòa án.
Hội đồng xét xử xét thấy: Kết quả xác minh tại địa phương và lời trình bày của chị H và anh P đều thể hiện quá trình chung sống, chị H và anh P có phát sinh mâu thuẫn, quá trình giải quyết vụ án, anh P không đến Tòa án làm việc, hòa giải, không trình bày được phương án khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ đầu năm 2020 đến nay. Như vậy mâu thuẫn giữa chị H và anh P là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thu H.
[3] Về con chung: Chị H và anh P có 02 con chung là cháu Vũ Hà Chí Q, sinh ngày 06/12/2007 và cháu Vũ Gia B, sinh ngày 03/10/2012. Hiện các cháu đang ở cùng với chị H. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và cháu B sau ly hôn. Anh P trình bày nguyện vọng được nuôi dưỡng 01 con chung khi ly hôn nhưng không nêu cụ thể cháu nào.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị H là chính đáng. Hiện cháu Q và cháu B đều trình bày nguyện vọng được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy chị H có điều kiện để nuôi con, đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của các con chung nên việc giao cháu Q và cháu B cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Do chị Hà Thu H yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung với mức 3.000.000 đồng/tháng/01 cháu, tổng là 6.000.000 đồng/tháng/02 cháu, anh P đồng ý nên HĐXX ghi nhận ý kiến của anh chị, quyết định anh Vũ Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức 3.000.000 đồng/tháng/01 cháu, tổng là 6.000.000 đồng/tháng/02 cháu.
Sau khi ly hôn, anh P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
[4] Về tài sản chung, công sức chung: Chị H và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Nợ chung: Chị H và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hà Thu H, chị Hà Thu H được ly hôn anh Vũ Văn P.
- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Vũ Hà Chí Q, sinh ngày 06/12/2007 và cháu Vũ Gia B, sinh ngày 03/10/2012. Giao cháu Vũ Hà Chí Q và cháu Vũ Gia B cho chị Hà Thu H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu Q và cháu B đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Vũ Văn P được quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Vũ Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức 3.000.000 (Ba triệu đồng) đồng/tháng/01 cháu, tổng là 6.000.000 (Sáu triệu đồng) đồng/tháng/02 cháu kể từ tháng 10/2024 đến khi các cháu Q và B đủ 18 tuổi hoặc có quyết định, thay đổi khác.
- Về tài sản chung, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung : Không có.
- Về án phí: Chị Hà Thu H phải chịu toàn bộ 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Hà Thu H đã nộp theo Biên lai số: 0000956 ngày 29/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP chị H không phải nộp thêm. Anh Vũ Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thu H và anh Vũ Văn P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lã Hùng Cường |
Bản án số 54/2024/HNGĐ – ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình.
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H ly hôn anh P
