Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ. H

TỈNH K. T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ. H, TỈNH K. T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn N

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn K

2. Bà Phạm Thị Gi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Trịnh Diệu L - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ. H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ. H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh X - Kiểm sát viên. Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ. H, tỉnh K. T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 8 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. A H

(Tên gọi khác: không); Sinh ngày 27 tháng 10 năm 1996, tại tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Rơ ngao; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 02/12; nghiệp: Làm nông; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh K T; Cha: A T Sinh năm: 1976 (đã chết); Mẹ: Y D, Sinh năm: 1969 (đã chết); Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 07/12/2023, A H có hành vi trộm cắp tài sản tại tổ dân phố A, thị trấn Đ giá trị tài sản 1.595.000 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Tuy nhiên do trước đó ngày 18/5/2023 A H bị Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 07/12/2023 bị cáo chưa được xóa án tích nên A H đã bị khởi tố và xét xử về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 27/2024/HSST của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà xử phạt A H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong khi bản án số 27/2024/HSST ngày 24/5/2024 chưa có hiệu lực pháp luật, ngày 11/6/2024 có hành vi trộm cắp tài sản tại thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K T.

Bị cáo A H bị bắt, tạm giữ ngày 12/6/2024, sau đó bị khởi tố chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. A T1

(Tên gọi khác: không); Sinh ngày 16 tháng 8 năm 2001 tại tỉnh K. T. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Rơ Ngao; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn E, xã Đ, Tp, tỉnh K T. Cha: A N (đã chết), Mẹ: Y H1, Sinh năm: 1980. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: không;

Tiền án: có 01 tiền án. Ngày 19/01/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Đ. H, tỉnh K. T xử phạt 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án sô 07/2024/HSST. Trong quá trình chấp hành án ngày 11/6/2024 bị cáo A T1 lại phạm tội mới.

Bị cáo A T1 bắt tạm giam từ ngày 25/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh A T2, sinh năm: 2002; trú tại: thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K T. (Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt).- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: A H2, sinh năm 2002

Địa chỉ: thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh K T. (Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 11/6/2024, A H (sinh năm: 1996) điều khiển xe mô tô kiểu dáng Honda Dream, màu nâu không có biển kiểm soát chở A T1 (sinh năm: 2001) cùng trú tại thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh K T từ xã Đ, thành phố K đến thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K T. Trên đường đi, A H nói với A T1 “Nếu thấy xe có lấy không” (A H rủ A T1 nếu thấy xe sẽ trộm cắp), A T1 nói “tùy thôi”. Khi đến đoạn đường bê tông liên thôn K, xã N, A và A T1 thấy hai chiếc xe mô tô không có người trông coi, một chiếc xe kiểu dáng Yamaha Sirius, màu trắng đen, biển số 17N6-0527 của anh A T2 (sinh năm: 2002; trú tại: thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K T) và một chiếc kiểu dáng Honda Dream. A T1 nói A H “Hảo ơi, xe kìa lấy luôn đi”. A H điều khiển xe mô tô đi tiếp khoảng 100m (một trăm mét) thì A H dừng xe ở bụi le. A H nói với A T1 “ngồi chờ xem xe” rồi đi xung quanh quan sát xem có ai không. Khi A H đang đi quan sát gần hai chiếc xe mô tô thì A T1 điều khiển xe mô tô đi đến và dừng ở ngã ba. A T1 nói A H lấy chiếc xe đi nhưng A H nói để A H coi người đã sau đó tiếp tục đi vào lô cà phê để xem có người không. Do thấy A H đi lâu quá, sợ bị phát hiện nên A T1 đã trộm cắp xe mô tô kiểu dáng Yamaha Sirius. A T1 dắt bộ chiếc xe máy ra đường rồi xổ dốc, sau đó dắt xe vào một rẫy cà phê bên đường để tìm cách nổ máy. A H, sau khi quay lại và không thấy A T1 cùng chiếc xe Yamaha, liền hiểu rằng A T1 đã trộm xe. Sau đó liền điều khiển xe đi về hướng xã Đ. Khi đang tìm cách nổ máy xe, A T1 thấy A H đang điều khiển xe đi qua và đã gọi lại giúp đấu nối dây điện để nổ máy xe. Cả hai sau đó vào lô cao su bên đường tháo vỏ yếm và biển số xe nhằm không ai phát hiện, đồng thời thỏa thuận sẽ bán chiếc xe. A H điều khiển xe mới trộm còn A T1 điều khiển xe của A H2 về nhà A H. Khi đang điều khiển hai xe mô tô đi trên đường về hướng xã Đ, thành phố K thì A T2 điều khiển xe mô tô đi từ phía sau truy hô đuổi theo. A T1 thấy vậy thì điều khiển xe bỏ chạy rồi chạy về nhà A H đợi. A H điều khiển xe mô tô bỏ chạy, do lo sợ nên đã bỏ xe lại và chạy vào lô cao su để bỏ trốn. Một lúc sau, A H đi bộ về và nói A T1 xe mô tô đã bị chủ xe lấy lại. A T1 trả xe cho A H rồi đi về. Ngày 12/6/2024 A T2 làm đơn trình báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Đ. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐG ngày 19/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 17N6-0527, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu trắng được định giá với số tiền: 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng, xe không gắn yếm, không gắn biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.
  • 01 (một) bản phô tô Đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001218; mang tên Ngô Thị T3, biển kiểm soát 17N6-0527
  • 01 (một) bản phô tô giấy sang nhượng ô tô, xe máy của xe mô tô biển số 17N6-0572, giữa anh A T2 và anh Đinh Ngọc M
  • 01 (một) bộ yếm màu trắng của xe mô tô, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) biển kiểm soát 17N6-0572, đã qua sử dụng
  • 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda Dream, đã qua sử dụng, xe không có dàn áo không gắn biển số, số máy: PR10020020122, số khung: VFYDCG032FY002394

Quá trình điều tra, xác minh xác định:

- Đối với xe ô tô 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda Dream, đã qua sử dụng, xe không có dàn áo không gắn biển số, số máy: PR10020020122, số khung: VFYDCG032FY002394. Ngày 24/7/2024 A H2 làm đơn xin nhận lại tài sản. Nhận thấy việc trả xe không ảnh hưởng đến quá trình điều tra vụ việc, ngày 06/8/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng là xe ô tô trên cho A H2 (sinh năm: 2002; trú tại: thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh K, là em trai A H), quản lý, sử dụng.

- Đối với 01 (một) bản phô tô Đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001218; mang tên Ngô Thị T3, biển kiểm soát 17N6-0527; 01 (một) bản phô tô giấy sang nhượng ô tô, xe máy của xe mô tô biển số 17N6-0572, giữa anh A T2 và anh Đinh Ngọc M hiện đang đi cùng hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKSĐH ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H, tỉnh K truy tố các bị cáo A H và A T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo A H và A T1 về tội danh như cáo trạng truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 2 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo A H mức án từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo A T1 mức án từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại A T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự.

- Về án phí: Các bị cáo A H và A T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo A H và A T1 thành khẩn khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội. Các bị cáo không ai có ý kiến bào chữa và tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, các bị cáo A H và A T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội thể hiện;

Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của bị hại, ngày 11/6/2024, A H và A T1 đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng, biển kiểm soát 17N6-0527 có giá là 7.200.000đ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Mục đích trộm cắp tài sản để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi đó của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm thực hiện hành vi tội phạm, các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo gây nguy hại cho xã hội, tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự chính trị tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm minh phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

[4] Về nhân thân, và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng:

Đối với A T1: Ngày 19/01/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xử phạt 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 07/2024/HSST. Trong quá trình chấp hành án ngày 11/6/2024 bị cáo A T1 lại phạm tội mới. Do đó, lần phạm tội này bị cáo Bộ chỉ phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm “Tái phạm” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với A H: Ngày 07/12/2023, A H có hành vi trộm cắp tài sản tại tổ dân phố A, thị trấn Đ giá trị tài sản 1.595.000 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Tuy nhiên do trước đó ngày 18/5/2023 A H bị Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 07/12/2023 bị cáo chưa được xóa án tích nên A H đã bị khởi tố và xét xử về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 27/2024/HSST của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà. Trong khi bản án số 27/2024/HSST ngày 24/5/2024 chưa có hiệu lực pháp luật, ngày 11/6/2024 có hành vi trộm cắp tài sản tại thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K. Do đó, lần phạm tội này bị cáo Bộ chỉ phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm “Tái phạm” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo A H và A T1 đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây thiệt hại không lớn, tài sản mà bị cáo trộm cắp đã được giao lại cho cơ quan công an điều tra, quá trình điều tra cơ quan điều tra cũng đã trả lại cho bị hại quản lý và sử dụng. Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì về phần tránh nhiệm dân sự đối với các bị cáo. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có việc làm nên không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[7] Về vật chứng của vụ án:

- Xét thấy, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng, xe không gắn yếm, không gắn biển kiểm soát; 01 (một) bộ yếm màu trắng của xe mô tô; 01 (một) biển kiểm soát 17N6-0572; tô 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda Dream, đã qua sử dụng, xe không có dàn áo không gắn biển số, số máy: PR10020020122, số khung: VFYDCG032FY002394 là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.

- Đối với 01 (một) bản phô tô Đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001218; mang tên Ngô Thị T3, biển kiểm soát 17N6-0527; 01 (một) bản phô tô giấy sang nhượng ô tô, xe máy của xe mô tô biển số 17N6-0572, giữa anh A T2 và anh Đinh Ngọc M hiện đang đi cùng hồ sơ vụ án. Xét thấy, các giấy tờ trên là của A trip, nhưng đều là bản phô tô nên được bảo lưu trong hồ sơ vụ án.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với A H2: Vào ngày 11/6/2024, A H2 đi làm rẫy, để chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Dream ở nhà. Sau đó, bị cáo A H lấy sử dụng chở bị cáo A T1 đi trộm cắp tài sản thì A H2 không biết và không được hưởng lợi gì từ việc trộm cắp tài sản của các bị cáo A H, A T1. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A H2.

[9] Về án phí: Các bị cáo A H và A T1 mỗi bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo A H và A T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 56; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo A H 12 (Mười hai) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt còn lại chưa chấp hành của Bản án số 27/2024/HSST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, về tội “Trộm cắp tài sản” là 06 (Sáu) tháng tù. Buộc bị cáo A H phải chấp hành hình phạt chung là 18 (Mười tám) tháng tù (được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 09/12/2023 đến ngày 23/12/2023 của Bản án số 27/2024/HSST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà).

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 12/6/2024.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo A T1 15 (Mười lăm) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt còn lại chưa chấp hành của Bản án số 07/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, về tội “Trộm cắp tài sản” là 06 (Sáu) tháng 04 (Bốn) ngày hình phạt cải tạo không giam giữ, chuyển đổi thành 02 (Hai) tháng 01 (Một) ngày tù. Buộc bị cáo A T1 phải chấp hành hình phạt chung là 17 tháng (Mười bảy tháng) 01 ngày (Một ngày) tù. Buộc bị cáo A T1 phải chấp hành hình phạt chung là 17 (Mười bảy) tháng 01 (Một) ngày tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) bản phô tô Đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001218; mang tên Ngô Thị T3, biển kiểm soát 17N6-0527; 01 (một) bản phô tô giấy sang nhượng ô tô, xe máy của xe mô tô biển số 17N6-0572, giữa anh A T2 và anh Đinh Ngọc M hiện đang đi cùng hồ sơ vụ án. Xét thấy, các giấy tờ trên là của A trip, nhưng đều là bản phô tô nên được bảo lưu trong hồ sơ vụ án.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo A H và A T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15(mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (17/9/2024) các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh K.T để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh K. T;
  • - VKSND tỉnh K. T;
  • - VKSND huyện Đ. H;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ. H;
  • - Chi cục THADS huyện Đ. H;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Quách Văn N

- Lưu HSVA.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ. H, TỈNH K. T về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ. H, TỈNH K. T
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo A Hảo và A Thang về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger