Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/DS-ST

Ngày 26 tháng 7 năm 2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Tuấn Kiệt.

- Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Bà Nguyễn Thị Tố Như – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55A/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

– Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1). Trụ sở: Số B, đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D. Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hiền T. Chức vụ: Trưởng phòng G, Ngân hàng Thương mại cổ phần S - chi nhánh tỉnh B (theo văn bản ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023). Ông Trần Hiền T ủy quyền cho ông Huỳnh Tứ P. Chức vụ: Phó phòng G, Ngân hàng Thương mại cổ phần S - chi nhánh tỉnh B (theo văn bản ủy quyền số 10/2024/GUQ-PGDPLBL ngày 17/01/2024).

– Bị đơn: Bà Tạ Tuyết T1, sinh năm 1979; Trú tại: Lô -, đường N, Khóm C, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Ông Huỳnh Tứ P vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Tạ Tuyết T1 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án ông Huỳnh Tứ P, là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP S – do Ngân hàng TMCP S - chi nhánh B (sau đây gọi tắt là ngân hàng) với bà Tạ Tuyết T1 có ký kết hợp đồng tín dụng (áp dụng cho phương thức hạn mức) số [...], ngày 29/12/2020, cùng các thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số [...] – 001, ngày 27/01/2021, số [...] – 002, ngày 17/6/2022, số [...] – 003, ngày 05/5/2023 và số [...] – 004, ngày 19/10/2023 với thỏa thuận như sau: Hạn mức cho vay: 1.750.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm năm mươi nghìn đồng); Hiệu lực của Hợp đồng là 01 năm kể từ ngày ký Hợp đồng; Thời hạn cho vay là 06 tháng và được ghi trên từng Giấy nhận nợ; Mục đích: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán thực phẩm. Về lãi suất được thỏa thuận theo từng giấy nhận nợ.

Ngày 11/6/2020 Ngân hàng với bà Tạ Tuyết T1 có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thẻ là Khách hàng cá nhân) số [...], ngày 11/6/2020, hạn mức cấp tín dụng là 160.000.000 đồng, sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Tạ Tuyết T1 đã được thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 181.500.000 đồng, trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt đến ngày 10/01/2024 bà Tạ Tuyết T1 đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 81.245.134 đồng. Do bà Tạ Tuyết T1 có khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số [...] tại ngân hàng đã phát sinh quá hạn từ ngày 30/12/2023, vì vậy cùng ngày toàn bộ dư nợ thẻ của bà T1 đã chuyển sang nợ quá hạn.

Ngày 19/10/2023, bà Tạ Tuyết T1 đã nhận tổng số tiền giải ngân là 1.750.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 010 và 0, cùng ngày 19/10/2023.

Các giấy nhận nợ đều thể hiện lãi suất cố định cho vay: 9.0%/năm và lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Để bảo đảm cho cho khoản vay trên, Ngân hàng và Tạ Tuyết T1 có ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản (áp dụng cho tài sản là bất động sản) số [...] ngày 29/12/2020 và Thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số [...] – 001, ngày 05/5/2023, tài sản thế chấp gồm:

- Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với diện tích đất 140,4m², đất ở tại nông thôn, tại thửa đất số 201, tờ bản đồ số 48 tại ấp D, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 484331 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu, cấp ngày 01/12/2020 cho ông Tạ Văn V, đăng ký biến động tặng cho lại bà Tạ Tuyết T1, sinh năm 1979 vào ngày 18/12/2020.

Từ ngày 30/12/2023, bà Tạ Tuyết T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thanh toán cho ngân hàng những khoản tiền như thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng nên ngân hàng đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản nợ chưa thanh toán của các giấy nhận nợ trên và chuyển sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 26/7/2024, tổng số tiền mà bà Tạ Tuyết T1 còn nợ ngân hàng là: 2.067.797.103 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.910.000.000 đồng, lãi trong hạn: 103.561.644 đồng, lãi quá hạn: 54.235.459 đồng).

Ngân hàng yêu cầu bà Tạ Tuyết T1 phải trả toàn bộ số tiền nợ trên cho ngân hàng và phải tiếp tục trả lãi quá hạn từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng cho vay theo hạn mức và các giấy nhận nợ.

Trường hợp phía bà Tạ Tuyết T1 không trả được nợ thì ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để ngân hàng thu hồi nợ.

* Bị đơn là bà Tạ Tuyết T1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho bà Tạ Tuyết T1 nhưng bà T1 không đến Tòa án để giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến khi xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.
  2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc yêu cầu bà Tạ Tuyết T1 trả khoản nợ vay tính đến ngày 26/7/2024 là 2.067.797.103 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.910.000.000 đồng, lãi trong hạn: 103.561.644 đồng, lãi quá hạn: 54.235.459 đồng) và tiền lãi nợ quá hạn phát sinh theo hợp đồng từ ngày 27/7/2024 cho đến khi bà Tạ Tuyết Thu thanh t xong nợ. Trường hợp bà Tạ Tuyết T1 không thanh toán được nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định để ngân hàng thu hồi nợ. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Tạ Tuyết T1 trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng (áp dụng cho phương thức hạn mức) số [...], cùng các thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số [...] – 001, số [...] – 002, số [...] – 003 và số [...] – 004 đã ký kết, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bà Tạ Tuyết T1 nơi cư trú hiện nay tại Lô -, đường N, Khóm C, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu.

[1.1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[1.2] Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bà Tạ Tuyết T1 không có ý kiến khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà bà T1 không tham gia phiên họp về việc kiểm tra, giao nộp, tiếp cận chứng cứ và hòa giải, đồng thời cũng không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Như vậy, bà Tạ Tuyết T1 đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu khởi kiện dựa trên các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án tiến hành thu thập được theo quy định của pháp luật.

Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”, Hội đồng xét xử lấy lời trình bày và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm chứng cứ giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng (áp dụng cho phương thức hạn mức) số [...], ngày 29/12/2020, cùng các thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số [...] – 001, ngày 27/01/2021, số [...] – 002, ngày 17/6/2022, số [...] – 003, ngày 05/5/2023 và số [...] – 004, ngày 19/10/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thẻ là Khách hàng cá nhân) số [...] thấy rằng: Các hợp đồng có hình thức, nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định về về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng S, về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, về chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ được quy định tại Điều 91, Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên các hợp đồng này có hiệu lực.

[2.2] Xét về việc thực hiện hợp đồng tín dụng (áp dụng cho phương thức hạn mức) số [...], ngày 29/12/2020: Nguyên đơn trình bày bị đơn đã nhận số tiền vốn vay là 1.750.000.000 đồng theo các giấy nhận nợ số 010 (số tiền 800.000.000 đồng) và 011 (số tiền 950.000.000 đồng) cùng ngày 19/10/2023. Xét các giấy nhận nợ đều được bà Tạ Tuyết T1 ký tên và ghi rõ họ tên của mình theo đúng quy định pháp luật nên có cơ sở xác định bị đơn đã nhận đủ số tiền vay là 1.750.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng nguyên đơn trình bày bị đơn chỉ thanh toán được cho nguyên đơn tổng số tiền 18.157.807 đồng tiền lãi. Từ ngày 30/12/2023, do bị đơn vi phạm việc trả nợ theo kỳ hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng nên khoản nợ đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngày 11/6/2020 Ngân hàng với bà Tạ Tuyết T1 có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thẻ là Khách hàng cá nhân) số [...], hạn mức cấp tín dụng

là 160.000.000 đồng, sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Tạ Tuyết T1 đã được thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 181.500.000 đồng, trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt đến ngày 10/01/2024 bà Tạ Tuyết T1 đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 81.245.134 đồng. Do bà Tạ Tuyết T1 có khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số [...] tại ngân hàng đã phát sinh quá hạn từ ngày 30/12/2023, vì vậy cùng ngày toàn bộ dư nợ thẻ của bà T1 đã chuyển sang nợ quá hạn.

Hiện nay, bị đơn còn nợ lại nguyên đơn tổng số nợ tính đến ngày 26/7/2024 là 2.067.797.103 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.910.000.000 đồng, lãi trong hạn: 103.561.644 đồng, lãi quá hạn: 54.235.459 đồng), bị đơn cũng không có ý kiến về nội dung này nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận ý kiến này của nguyên đơn.

[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ là 2.067.797.103 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.910.000.000 đồng, lãi trong hạn: 103.561.644 đồng, lãi quá hạn: 54.235.459 đồng) và phải tiếp tục trả khoản tiền lãi, chi phí phát sinh tính theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng, thấy rằng: Căn cứ Điều 9 của Hợp đồng tín dụng (áp dụng cho phương thức hạn mức) số [...], ngày 29/12/2020 và khoản 1 và khoản 2 của các điều khoản chung về cấp tín dụng đính kèm hợp đồng quy định việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Vì vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền còn nợ là 2.067.797.103 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.910.000.000 đồng, lãi trong hạn: 103.561.644 đồng, lãi quá hạn: 54.235.459 đồng), bị đơn không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn. Đồng thời căn cứ nội dung các Hợp đồng đã ký kết thì bà T1 phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn theo nội dung thỏa thuận trong các Hợp đồng đã ký với Ngân hàng.

[3] Xét kết Hợp đồng thế chấp tài sản (áp dụng cho tài sản là bất động sản) số [...] ngày 29/12/2020 và Thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số [...] – 001, ngày 05/5/2023, tài sản thế chấp gồm:

- Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với diện tích đất 140,4m², đất ở tại nông thôn, tại thửa đất số 201, tờ bản đồ số 48 tại ấp D, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 484331 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu, cấp ngày 01/12/2020 cho ông Tạ Văn V, đăng ký biến động tặng cho lại bà Tạ Tuyết T1, sinh năm 1979 vào ngày 18/12/2020.

[3.1] Qua xem xét thẩm định tại chỗ phần đất thế chấp (Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/3/2024) hiện trạng trên đất 01 căn nhà cấp IV, kết cấu khung cột bê tông cốt thép, đòn thay gỗ dầu, mái lợp tole, vách tole (có xây gạch cao 1,6m), cửa sắt lá kéo, nền xi măng, phía trước nhà có mái che bằng cây gỗ dầu, mái tole, nền xi măng do bà T1 đang quản lý sử dụng. Hiện trạng thực tế của thửa đất nêu trên không thay đổi gì so với thời điểm thế chấp. Thấy rằng: Hợp đồng thế chấp đã được bà Tạ Tuyết T1 đã ký

tên, được công chứng và có đăng ký thế chấp với cơ quan có thẩm quyền nên về hình thức và nội dung là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, hợp đồng thế chấp tài sản (áp dụng cho tài sản là bất động sản) số [...] ngày 29/12/2020 và Thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số [...] – 001, ngày 05/5/2023 có hiệu lực.

[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thanh toán nợ đầy đủ cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp và các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ. Thấy rằng: Các Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật, đồng thời đối với các tài sản thuộc quyền sở hữu của bị đơn gắn liền với quyền sử dụng đất thế chấp chưa được chứng nhận quyền sở hữu nhưng căn cứ vào Điều 2 của Hợp đồng thế chấp quy định về Tài sản thế chấp bao gồm “Tất cả tài sản gắn liền với thửa đất...” nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần này.

[4] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa.

[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 600.000 đồng. Bà Tạ Tuyết T1 phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã dự nộp 600.000 đồng nên bà T1 phải hoàn lại cho Ngân hàng 600.000 đồng.

[6] Về án phí:

  • - Bà Tạ Tuyết T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 2.067.797.103 đồng nên phải nộp án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 73.355.942 đồng.
  • - Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nộp 35.026.000 tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002387 ngày 16/02/2024, Ngân hàng thương mại cổ phần S được hoàn lại toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5; khoản 2 Điều 71; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 91; Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bà Tạ Tuyết T1 về việc yêu cầu trả số tiền nợ tính đến ngày 26/7/2024 là 2.067.797.103 đồng (Hai tỷ, không trăm sáu mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm lẻ ba đồng), (trong đó: nợ gốc là 1.910.000.000 đồng (Một tỷ, chín trăm mười triệu đồng), lãi trong hạn: 103.561.644 đồng (Một trăm lẻ ba triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng), lãi quá hạn: 54.235.459 đồng (Năm mươi bốn triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn bốn trăm năm mươi chín đồng).

3/. Buộc bà Tạ Tuyết T1 có trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tính đến ngày 26/7/2024 là 2.067.797.103 đồng (Hai tỷ, không trăm sáu mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm lẻ ba đồng), (trong đó: nợ gốc là 1.910.000.000 đồng (Một tỷ, chín trăm mười triệu đồng), lãi trong hạn: 103.561.644 đồng (Một trăm lẻ ba triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng), lãi quá hạn: 54.235.459 đồng (Năm mươi bốn triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn bốn trăm năm mươi chín đồng).

4/. Kể từ ngày 27/7/2024 bà Tạ Tuyết T1 còn phải thanh toán cho ngân hàng thương mại cổ phần S tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Tạ Tuyết T1 phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

5/. Trường hợp bà Tạ Tuyết T1 không thanh toán nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S, Ngân hàng thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá các tài sản thế chấp để thu hồi nợ gồm: Diện tích đất 140,4m², tại thửa đất 201, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 484331 do Ủy ban nhân dân thành huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 01/12/2020 cho ông Tạ Văn V. Ngày 18/12/2020, Chi nhánh Văn phòng đất ký đất đai huyện P chỉnh lý biến động trang 4 tặng cho bà Tạ Tuyết T1 và các tài sản khác gắn liền với đất gồm: 01 căn nhà cấp IV, kết cấu khung cột bê tông cốt thép, đòn thay gỗ dầu, mái lợp tole, vách tole (có xây gạch cao 1,6m), cửa sắt lá kéo, nền xi măng, phía trước nhà có mái che bằng cây gỗ dầu, mái tole, nền xi măng. (theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/3/2024)

6/. Về án phí: Bà Tạ Tuyết T1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 73.355.942 (Bảy mươi ba triệu, ba trăm năm mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi hai đồng).

Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí, Ngân hàng thương mại cổ phần S đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 35.026.000 đồng (Ba mươi lăm triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tại biên lai thu số 0002387 ngày 16 tháng 02 năm 2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.

7/. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) đồng. Bà Tạ Tuyết T1 phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã dự nộp số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) đồng nên bà T1 phải hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).

8/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bà Tạ Tuyết T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND Tp. Bạc Liêu;
  • - CQTHADS Tp. Bạc Liêu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Công Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 54/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger