|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 26-7-2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân.
- + Ông Đinh Văn Cương
- + Bà Trần Thị Thanh Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trọng Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 93/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXX - ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1975. Địa chỉ: 2 đường S, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Bá Q, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Năm 1992 bà và ông Q xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 21/10/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. CUộc sống chung hòa thuận, hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được, tuy nhiên từ tháng 9 năm 2023 thì cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, hạnh phúc, xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau thường xuyên. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông Q hay ghen tuông vô cớ, thường xuyên chửi bới, đánh đập bà. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm nhưng đều không được. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn được, bà T xác định không còn tình cảm với ông Q, không thể tiếp tục chung sống với nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay nên bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Q. Về con chung bà T xác định vợ chồng tôi có 04 con chung là Nguyễn Trần T1, sinh ngày: 11/9/1993; Nguyễn Thị Minh Q1, sinh ngày: 18/4/1995; Nguyễn Như Q2, sinh ngày: 05/6/1997 và Nguyễn Trần T2, sinh ngày: 20/4/2003. Hiện nay các con chung đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên bà T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Bà T xác định vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. quyết. Về nợ chung: Bà T xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Ngoài ra bà T không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Nguyễn Bá Q trình bày: ông xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị T năm 1992, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Q phải đi làm công trình, không có thời gian quan tâm nên bà T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Sau khi biết việc ông Q đã nhiều lần khuyên bà T mong bà T thay đổi để vợ chồng cùng lo cho các con. Tuy nhiên, bà T không thay đổi mà vẫn tiếp tục không chung thủy. Sau đó bà T bỏ nhà đi đâu ông Q không biết từ ngày 02/9/2022, ông và các con đều không biết bà T ở đâu, bà T đi không liên lạc gì về nhà. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông Q xác định cũng không còn tình cảm với bà T nên ông Q đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Về con chung ông Q xác định vợ chồng tôi có 04 con chung là Nguyễn Trần T1, sinh năm 1993, Nguyễn Thị Minh Q1, sinh năm 1995, Nguyễn Như Q2 và Nguyễn Trần T2, sinh năm 2003. Hiện nay các con đều đã trưởng thành, phát triển bình thường nên khi ly hôn ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Về tài sản chung ông Q xác định khi ly hôn vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung ông Q xác định không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Q vắng mặt nên không hòa giải được và Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt nhưng ông Q không có ý kiến gì. Vì vậy, Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà T, xử cho bà T được ly hôn với ông Q. Về con chung hiện nay cả bốn con chung của bà T và ông Q đều đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung các đương sự xác định tự thỏa thuận, về nợ chung các đương sự xác định không có nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về án phí: Đề nghị buộc bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn cùng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Q đăng ký kết hôn vào ngày 21 tháng 10 năm 2020 tại Ủy ban nhân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân giữa bà T và ông Q được xác lập trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo bà T khai thì nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Q hay ghen nên thường xuyên đánh đập bà, đã nhiều lần bà khuyên ông Q nhưng không được. Vợ chồng đã sống ly thân và bà T xác định không còn tình cảm với ông Q nên bà T làm đơn yêu cầu ly hôn. Còn ông Q xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do bà T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, ông Q đã khuyên nhưng bà T không thay đổi và tự ý bỏ nhà đi từ tháng 9/2023, ông Q đồng ý ky hôn. Xét thấy, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà T và ông Q là do ông Q không tin tưởng bà T trong quan hệ tình cảm nên cuộc sống không hạnh phúc nên đã tự sống ly thân từ tháng 9/2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân các đương sự không có biện pháp hàn gắn tình cảm. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không đem lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của bà T, xử cho bà T và ông Q được ly hôn.
[3] Về con chung: bà T và ông Q có 04 con chung là Nguyễn Trần T1, sinh năm 1993, Nguyễn Thị Minh Q1, sinh năm 1995, Nguyễn Như Q2 và Nguyễn Trần T2, sinh năm 2003. Xét thấy hiện nay các con chung của bà T và ông Q đều đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung các đương sự cùng xác định tự thỏa thuận, về nợ chung các đương sự cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ trong vụ án này. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu khởi kiện.
[5] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, xử cho bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Bá Q được ly hôn.
- Về án phí: bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0004578 ngày 01/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, bà T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa | |
| Đinh Văn Cương | Trần Thị Thanh Vân | Nguyễn Thị Như Quỳnh |
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Quỳnh |
Bản án số 54/2024/HNGĐ - ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết với bị đơn ông Nguyễn Bá Quát
