Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày: 26/4/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Lê Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tráng- Kiểm sát viên.

Ngày 26/4/2024, tại trụ sở UBND phường T, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

1/ Cao Thị T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 20/7/1977 tại: TP Đà Nẵng; HKTT: K222/12 N, P. Hòa Cường B, Q. H, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Con ông: Cao Văn N (chết) và bà: Phan Thị B (SN: 1950). Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Chồng: Đã ly hôn, con: có 02 người con sinh năm 2005 và 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/5/2019, bị Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 BLHS.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP .. Có mặt tại phiên toà.

2. Lê Văn M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/05/1992 tại: tỉnh Quảng Nam; HKTT: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: phòng 503 nhà nghỉ J số 137 đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông: L (chết) và bà: Âu Thị K (SN: 1967); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Đã ly hôn, con: Có 02 con sinh năm 2017 và 2020

1

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 14/12/2022, bị Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi “Sử dụng rượu, bia gây mất trật tự công cộng”. M chưa nộp tiền phạt.

Nhân thân:

  • - Ngày 27/8/2008, bị Toà án nhân dân huyện Hòa Vang huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS.
  • - Ngày 23/3/2013, bị Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP .. Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị Mộng T1, sinh năm 1979; Địa chỉ: K L, phường P, TP ., tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

* Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Sơn T2, sinh năm 1996; Địa chỉ: tổ A, phường X, quận T, TP ., vắng mặt.
  • - Ông Đỗ Đức H, sinh năm 1988; Địa chỉ: tổ B phường X, quận T, TP ., vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 06 giờ 30 phút ngày 25/9/2023, Lê Văn M đang ở tại phòng 503 nhà nghỉ J số 137 đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng thì có người thanh niên tên H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc rủ M đến đường T, quận T, thành Đ để sử dụng ma túy thì M đồng ý. H1 nhờ M hỏi chỗ mua ma túy thì M đồng ý. Sau đó, M nhắn tin Z mua của T 300.000 đồng ma tuý đá thì T đồng ý và M đến ngã tư đường H - Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng. M bắt xe ôm đến điểm hẹn thì T đồng ý bán nợ 01 gói ma tuý đá với giá 300.000đồng. Sau khi lấy ma tuý, M cất gói ma tuý đá vào túi quần bên trái và mượn T thêm 100.000đồng để trả tiền xe ôm rồi nhờ T chở đến đường T, thành phố Đà Nẵng. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi M đang đứng trước khách sạn R số 22 T, phườg X, quận T, thành phố Đà Nẵng thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phát hiện và bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần bên trái của M đang mặc có 01 (một) gói ni lông kích thước 3x3,5cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong, ký hiệu G1.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn M tại phòng 503 nhà nghỉ J, số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng thì có Cao Thị T và Cao Thị Mộng T1 (SN: 1979, HKTT: K L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương). Qua khám xét thu giữ:

2

  • + Thu giữ trong túi xách màu nâu của Cao Thị T 03 gói nilong kích thước 3x3,5 cm; 01 gói nilong kích 3x3 cm và 01 gói nilong kích 7x4cm đều chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu G2.
  • + Thu giữ tại nền nhà gần vị trí Cao Thị T đang ngồi có 01 bao nilong màu tím (được niêm phong ký hiệu G3) bên trong có 02 gói ni long kích thước đều 4x7,5 cm đều chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu G4.
  • + 01 (một) bình nhựa có gắn 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh, bên trong nỏ thủy tinh có bám dính chất rắn màu trắng đục. Niêm phong 01 nỏ thuỷ tinh ký hiệu G5.

Tiếp tục khám xét khẩn cấp nhà của Cao Thị T tại K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng thu giữ tại hộp đựng giày trên kệ trong phòng ngủ của Cao Thị T có 01 (một) gói nilong kích thước 03 cm x 2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu G6.

Qua điều tra xác định: Vào tối ngày 24/9/2023, Cao Thị T liên lạc với một nam thanh niên tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý, hẹn T đến khu vực bến xe thành phố Đ để nhận ma túy. T đến chỗ hẹn mua 01 (một) gói ma túy đá rồi đem về nhà tại K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng cất giấu, sau đó phân chia thành các gói nhỏ. Đến khoảng 10 giờ ngày 25/9/2023, T điều khiển xe môtô Honda Lead biển số 29C1- 33854 đến bán nợ cho M 01 (một) gói ma túy đá với giá 300.000đồng tại ngã tư H - Đ, thành phố Đà Nẵng và cho M mượn 100.000đồng để trả tiền xe ôm, sau đó chở M đến đường T, thành phố Đà Nẵng rồi đi về nhà. T cất 07 gói ma túy đá vào túi xách, làm rớt lại 01 (một) gói ma túy đá tại hộp đựng giày trong phòng ngủ tại nhà. Sau đó T mang túi xách có chứa ma túy đến phòng 503 nhà nghỉ J gặp Cao Thị Mộng T1 rồi đổ ma túy vào 01 (một) nỏ thủy tinh ở trong phòng, T1 đi ra ngoài có việc. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an Q đến phòng 503 khám xét và thu giữ toàn bộ số ma túy trên. T khai nhận toàn bộ số ma túy thu giữ khi khám xét tại phòng 503 nhà nghỉ J và tại nhà T đều là của T cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Ngoài ra, T khai nhận vào khoảng tháng 8/2023 T có bán cho M 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng và vào ngày 24/9/2023 T có bán cho T1 01 gói ma túy đá.

Quá trình điều tra, Lê Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. M và T1 đều khai nhận có mua ma túy đá của T nhiều lần để sử dụng. M và T1 đều không biết T mang ma túy đến nơi ở của M và T1. Riêng Cao Thị T, quá trình điều tra ban đầu T khai nhận toàn bộ số ma túy thu được T cất giữ để bán kiếm lời nhưng sau đó T quanh co, không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy, mà khai nhận mua số ma túy trên về để sử dụng.

Theo Bản Kết luận giám định số 838/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu G1, G2, G4, G5, G6 gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu G1: 0,225 gam; mẫu G2: 3,866 gam; mẫu G4: 9, 490 gam; mẫu G5: 0, 133 gam; mẫu G6: 0,174 gam”.

Qua xét nghiệm chất ma túy, Lê Văn M, Cao Thị T và Cao Thị Mộng T1 đều dương tính với chất ma túy.

*Vật chứng tạm giữ:

3

  • - Mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 06 (sáu) bì niêm phong số 838/KL-KTHS ngày 03/10/2023, ký hiệu G1, G2, G4A, G4B, G5, G6 có đóng dấu giáp lai của Phòng K1, Công an TP.Đà Nẵng và chữ ký của giám định viên.
  • - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu G3 có đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an Q chứa 01 vỏ bao khẩu trang của T.
  • - Số tiền 330.000 đồng (tài sản của Cao Thị T).
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số Imei: 351594951026274, gắn sim số: 0905489745 (tài sản của Cao Thị T).
  • - 01 (một) căn cước công dân và 01 (một) thẻ ngân hàng V mang tên Cao Thị T (tài sản của Cao Thị T).
  • - 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đào Thị Trâm O (tài sản của Cao Thị T).
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số seri: 357422047206169, gắn sim số: 0777450668. (tài sản của Lê Văn M).
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng, số Imei: 861570038758017, gắn sim 0933633764 (tài sản của Lê Văn M).
  • - Số tiền 20.000 đồng (tài sản của Lê Văn M).
  • - 01 (một) xe môtô hiệu Honda Lead màu nâu biển số 29C1-33854, S khung: 2406AY023827, số máy: JF24E0333450 đứng tên chủ sở hữu là Đào Thị Trâm O (Sinh năm: 1957, thường trú: P38-A2 TT T, phường H, quận H, Hà Nội). Năm 2015, bà O bán xe lại cho nhân viên làm trong xưởng của bà (không nhớ rõ lai lịch) tại thành phố Hồ Chí Minh với giá 30.000.000 đồng không viết giấy tờ mua bán. Cao Thị Thu mua lại chiếc xe này từ một người không rõ nhân thân, lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh, có viết giấy mua bán xe nhưng đã bị thất lạc. Chiếc xe hiện không rõ nguồn gốc, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với những vật chứng nêu trên (10 khoản) chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tạm thời quản lý.

Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 29 tháng 2 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố Cao Thị T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra đề nghị HĐXX:

4

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao Thị T từ 11 năm đến 12 năm tù

Áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt bổ sung bằng tiền đối với Cao Thị T số tiền từ 10.000.000đồng đến 20.000.000đồng

Áp dụng điểm c khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 2 đến 3 năm tù.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị HĐXX tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 06 (sáu) bì niêm phong số 838/KL-KTHS ngày 03/10/2023, ký hiệu G1, G2, G4A, G4B, G5, G6 có đóng dấu giáp lai của Phòng K1, Công an thành phố Đ và chữ ký của giám định viên; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu G3 có đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an quận T chứa 01 vỏ bao khẩu trang của T; 01 bình nhựa có gắn ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh bên trong có bám chất rắn màu trắng đục.
  • - Tịch thu xung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số Imei: 351594951026274, gắn sim số: 0905489745 của bị cáo Cao Thị T, 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số I:: 357422047206169, gắn sim số: 0777450669; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng bị vỡ màn hình, số Imei: 861570038758017, gắn sim số: 09033633764 của bị cáo Lê Văn M.
  • - Hoàn trả cho Cao Thị T: 01 (một) căn cước công dân và 01 (một) thẻ ngân hàng V mang tên Cao Thị T, số tiền 330.000đồng tuy nhiên đề nghị HĐXX tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Hoàn trả cho Lê Văn M số tiền 20.000 đồng tuy nhiên đề nghị HĐXX tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Đề nghị quy trữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đào Thị Trâm O (tài sản của Cao Thị T).

* Về phần dân sự:

  • - 01 (một) xe môtô hiệu Honda Lead màu nâu biển số 29C1-33854, S khung: 2406AY023827, số máy: JF24E0333450 đứng tên chủ sở hữu là Đào Thị Trâm O (Sinh năm: 1957, thường trú: P38-A2 TT T, phường H, quận H, Hà Nội). Năm 2015, bà O bán xe lại cho nhân viên làm trong xưởng của bà (không nhớ rõ lai lịch) tại thành phố Hồ Chí Minh với giá 30.000.000 đồng không viết giấy tờ mua bán. Cao Thị Thu mua lại chiếc xe này từ một người không rõ nhân thân, lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh, có viết giấy mua bán xe nhưng đã bị thất lạc. Hiện nay chiếc xe này T sử dụng làm phương tiện phạm tội là vật chứng của vụ án nên đề nghị tịch thu sung công tại phần xử lý vật chứng.

* Các vấn đề khác:

5

  • - Lê Văn M, Cao Thị T và Cao Thị Mộng T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an quận T, TP Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ.
  • - Đối với Cao Thị Mộng T1 hiện đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu làm gì. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau là có cơ sở.
  • - Đối với thanh niên tên C bán ma túy cho Cao Thị T hiện không rõ lai lịch, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau là có cơ sở.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

  • - Bị cáo Lê Văn M thừa nhận toàn bộ hành vi sai phạm xin HĐXX cho bị cáo hưởng mức thấp nhất để có cơ hội rèn luyện bản thân sớm quay trở về với gia đình
  • - Riêng đối với bị cáo Cao Thị T bị cáo không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy, không nhận tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra,truy tố và đối chất trực tiếp các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Bị cáo Lê Văn M nhắn tin qua Zalo mua của Cao Thị T 300.000 đồng ma tuý đá để cùng sử dụng với một đối tượng tên H1 (không rõ nhân thân lai lịch) tại khách sạn R số B T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Văn M bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phát hiện và bắt quả tang gói ma túy cất giữ trong túi quần chưa kịp sử dụng. Bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" có khối lượng 0,225g Methamphetamin, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Cao Thị T trong quá trình điều tra bị cáo có thay đổi lời khai và tại phiên tòa loanh quanh chối tội, bị cáo T khai rằng bị cáo không bán ma túy cho M mà chỉ tàng trữ ma túy để sử dụng và có cho M một gói ma túy vào sáng ngày 25/9/2023. Tuy nhiên HĐXX căn cứ vào các tài liệu có trong vụ án, lời khai của bị cáo T trong các bản tự khai; các biên bản lấy lời khai bị can; Các bản cung đối với

6

Cao Thị T, Lê Văn M và Cao Thị Mộng T1 tại cơ quan điều tra và lời khai tại phiên tòa bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra bị cáo không bị các điều tra viên ép cung và nhục hình, tự nguyện khai báo, xác nhận chữ ký, chữ viết tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai,và bản cung là của bị cáo; Xét chứng cứ trích xuất nội dung tin nhắn tại điện thoại thu giữ của bị cáo Cao Thị T, các nội dung trong tin nhắn này đã được các bị cáo Cao Thị T và Lê Văn M giải thích ý nghĩa rõ ràng phù hợp với đối chất giữa bị cáo T và Lê Văn M về nội dung tin nhắn tại phiên tòa nên HĐXX đủ căn cứ xác định Cao Thị T có hành vi mua ma túy của một đối tượng tên C (không rõ nhân thân lai lịch) tại bến xe TP. Đ đem về cất giấu, phân nhỏ ra các bao ny lông nhiều kích thước để bán ma túy kiếm lời. Bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi bán cho Lê Văn M gói ma túy giao tại ngã tư H, quận T, TP . và toàn bộ số ma túy thu giữ tại nhà nghỉ J số 137 đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng và nơi ở của Cao Thị T tại K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng với tổng khối lượng Methamphetamin là 13,663g và nhiều lần bị cáo đã bán ma túy cho Lê Văn M và Cao Thị Mộng T1 trước đó. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 29 tháng 2 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố Cao Thị T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Cao Thị T và Lê Văn M là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng cố tình thực hiện hành vi trái pháp luật xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước, lôi kéo nhiều đối tượng khác trong xã hội vào con đường vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương nên cần xét xử nghiêm minh mới đủ sức răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định hình phạt:

  • - Bị cáo Cao Thị T không có tiền án tiền sự, có nhân thân xấu: năm 2019 đã từng bị xử phạt 18 tháng tù về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Trong vụ án này bị cáo dương tính với chất ma túy và bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho thấy bị cáo là người có ý thức pháp luật thấp, đã bị xử phạt nhưng không lấy đó làm gương mà tiếp tục vi phạm pháp luật. Xét quá trình điều tra bị cáo thay đổi lời khai chối tội và tại phiên tòa bị cáo quanh co không thừa nhận hành vi phạm tội nên HĐXX không áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
  • - Bị cáo Lê Văn M không có tiền án nhưng có tiền sự: Năm 2022, bị cáo xử phạt hành chính về hành vi sử dụng rượu bia gây mất trật tự công cộng bị cáo chưa nộp phạt; Bị cáo có nhân thân xấu: năm 2008, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 3 năm tù về hành vi cướp tài sản; Năm 2013, bị Tòa án

7

nhân dân quận Liên Chiểu, TP . xử 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và trong vụ án này bị cáo dương tính với chất ma túy cho thấy bị cáo đã từng bị xử phạt nhiều lần nhưng không lấy đó làm gương để tu dưỡng bản thân là người có ý thức pháp luật kém. Tuy nhiên xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng pháp luật đối với người phạm tội biết nhận lỗi.

HĐXX xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo,các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Đối với bị cáo Cao Thị T cần phạt bổ sung một mức tiền nhất định theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS để bị cáo nhận thức được hành vi của mình. Đồng thời đảm bảo tính giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

[6]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự :

  • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 06 (sáu) bì niêm phong số 838/KL-KTHS ngày 03/10/2023, ký hiệu G1, G2, G4A, G4B, G5, G6 có đóng dấu giáp lai của Phòng K1, Công an thành phố Đ và chữ ký của giám định viên; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu G3 có đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an quận T chứa 01 vỏ bao khẩu trang của T; 01 bình nhựa có gắn ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh bên trong có bám chất rắn màu trắng đục.
  • - Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số Imei: 351594951026274, gắn sim số: 0905489745 của bị cáo Cao Thị T, 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 357422047206169, gắn sim số: 0777450669; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng bị vỡ màn hình, số Imei: 861570038758017, gắn sim số: 09033633764 của bị cáo Lê Văn M; 01 (một) xe môtô hiệu Honda Lead màu nâu biển số 29C1-33854, S khung: 2406AY023827, số máy: JF24E0333450 đứng tên chủ sở hữu là Đào Thị Trâm O.
  • - Hoàn trả cho Cao Thị T: 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) thẻ ngân hàng V mang tên Cao Thị T và số tiền 330.000đồng. Đối với số tiền 330.000đồng của Cao Thị T, HĐXX tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Hoàn trả cho Lê Văn M số tiền 20.000 đồng tuy nhiên HĐXX tiếp tục quy số tiền này trữ để đảm bảo thi hành án.
  • - 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đào Thị Trâm O (tài sản của Cao Thị T) HĐXX lưu tại hồ sơ vụ án

[7]. Phần dân sự

01 (một) xe môtô hiệu Honda Lead màu nâu biển số 29C1-33854, S khung: 2406AY023827, số máy: JF24E0333450 đứng tên chủ sở hữu là Đào Thị Trâm O (Sinh năm: 1957, thường trú: P38-A2 TT T, phường H, quận H, Hà Nội). Năm 2015, bà O bán xe lại cho nhân viên làm trong xưởng của bà (không nhớ rõ lai lịch)

8

tại thành phố Hồ Chí Minh với giá 30.000.000 đồng không viết giấy tờ mua bán. Cao Thị Thu mua lại chiếc xe này từ một người không rõ nhân thân, lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh, có viết giấy mua bán xe nhưng đã bị thất lạc. Hiện nay chiếc xe này T sử dụng làm phương tiện phạm tội là vật chứng của vụ án nên HĐXX tịch thu sung công tại phần xử lý vật chứng.

[8] Các vấn đề khác:

  • - Lê Văn M, Cao Thị T và Cao Thị Mộng T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an quận T, TP Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ.
  • - Đối với Cao Thị Mộng T1 hiện đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu làm gì. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau là có cơ sở.
  • - Đối với thanh niên tên C bán ma túy cho Cao Thị T hiện không rõ lai lịch, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau là có cơ sở.

[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án bị cáo Cao Thị T và Lê Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định.

[10] Theo những nhận định như trên Hội đồng xét xử chấp nhận luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b,i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;
  2. Tuyên bố: Bị cáo Cao Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Cao Thị T 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/9/2023.

    - Áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt bổ sung bằng tiền đối với Cao Thị T số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng)

  3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
  4. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/9/2023.

  5. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 06 (sáu) bì niêm phong số 838/KL-KTHS ngày 03/10/2023, ký hiệu G1, G2, G4A, G4B, G5, G6 có đóng dấu giáp lai của Phòng K1, Công an thành phố Đ và chữ ký của giám định viên; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu G3 có đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an quận T chứa 01 vỏ bao khẩu trang của T; 01 bình nhựa

    9

    • có gắn ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh bên trong có bám chất rắn màu trắng đục.
    • - Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số Imei: 351594951026274, gắn sim số: 0905489745 của bị cáo Cao Thị T, 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 357422047206169, gắn sim số: 0777450669; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng bị vỡ màn hình, số Imei: 861570038758017, gắn sim số: 09033633764 của bị cáo Lê Văn M; 01 (một) xe môtô hiệu Honda Lead màu nâu biển số 29C1-33854, S khung: 2406AY023827, số máy: JF24E0333450 đứng tên chủ sở hữu là Đào Thị Trâm O (tài sản của Cao Thị T)
    • - Hoàn trả cho Cao Thị T: 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) thẻ ngân hàng V mang tên Cao Thị T và số tiền 330.000đồng. Đối với số tiền 330.000đồng của Cao Thị T, tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Hoàn trả cho Lê Văn M số tiền 20.000 đồng. Số tiền này tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
    • - 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đào Thị Trâm O (tài sản của Cao Thị T) được quy trữ theo hồ sơ vụ án.

    (Toàn bộ vật chứng được bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, TP. tại biên bản bàn giao ngày 13/3/2024)

  6. Về án phí
  7. Bị cáo Cao Thị T và Lê Văn M mỗi người chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng

  8. Về thời hạn kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 26/4/2024; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - CQCSĐT Công an quận Thanh Khê;
  • - CCTHADS quận Thanh Khê;
  • - TAND TP Đà Nẵng;
  • - VKSND Tp Đà Nẵng;
  • - Sở Tư pháp Tp Đà Nẵng;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Cao Thị Thu phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Minh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger