Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-PT

Ngày 25 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân
  • Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Lâm
  • Ông Võ Thái Sơn
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:

Ông Trương Thanh Triệu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Lê Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2023/HS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (về sau gọi tắt là bản án sơ thẩm).

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn H, sinh năm 1984 tại Ninh Bình; nơi thường trú: Xóm E, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện nay: C tổ F, ấp C, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V (chết) và bà Lại Thị T (chết); có vợ là Lại Thị D và 02 người con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/9/2022 đến ngày 24/9/2022 chuyển tạm giam, đến ngày 13/01/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 17/8/2006, Lê Văn H, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Như Đ1 và Lê Văn C làm thuê tại huyện G, tỉnh Kiên Giang đi xe máy về thành phố Hồ Chí Minh. Khi lưu thông trên Quốc lộ F đoạn khu vực 2, phường V, thị xã V cũ (nay là thành phố V) thì phát hiện 02 cuộn dây cáp điện của Xí nghiệp X để cặp lề đường không ai quản lý, trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Khi về đến thành phố Hồ Chí Minh thì H, Đ và Đ1 đã nói việc này với Lê Văn B và Phạm Văn Đ2 được tất cả đồng ý. Sau khi thống nhất, Ba giao H, Đào Văn Đ3 đi xe gắn máy xuống chỗ để 02 cuộn dây cáp điện trước để nắm tình hình, rồi cho xe cẩu xuống sau. Đến khoảng 01 giờ, ngày 19/8/2006, Nguyễn Như Đ1 đi cùng xe cẩu mang biển kiểm soát 54V-6494 do Mai Văn T1 và Đinh Văn T2 thay nhau điều khiển đến gặp H và Đ3 đợi sẵn. Tại đây, Đ1 và Đ3 phối hợp với xe cẩu để đưa 02 cuộn dây cáp điện lên xe. Sau đó, Đ3 theo xe cẩu còn H và Đ1 điều khiển xe gắn máy theo sau. Đ3 đi trên xe cẩu chở 02 cuộn dây cáp đến cơ sở thu mua phế liệu của Vũ Thị K tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bán cho K (do Ba đã thỏa thuận mua bán trước đó). Sau đó thì B, Đ1, Đảng, Đ3 và những người làm công cho K cùng nhau chặt và đốt 02 cuộn dây cáp điện lấy được tổng cộng 663kg lõi dây cáp điện bằng đồng. Lê Văn B bán cho Vũ Thị K số lõi dây đồng trên được số tiền 49.725.000 đồng. Khuy trừ tiền trả tiền thuê xe cẩu 4.700.000 đồng, tiền thuê bãi 1.200.000 đồng, số tiền còn lại 43.825.000 đồng thì B chia cho Đ3 7.000.000 đồng, Đảng 5.000.000 đồng, Đ1 4.500.000 đồng, Đ2 3.000.000 đồng và H 4.000.000 đồng, B cho thêm Đ1 và Đảng mỗi người 300.000 đồng, số tiền còn lại Ba giữ hết. H dùng số tiền này mua 01 chiếc điện thoại di động, khoảng vài ngày sau Ba mượn lại chiếc điện thoại di động và số tiền còn lại của H. Sau khi biết được thông tin Ba cùng đồng bọn bị bắt, H sợ bị bắt nên lẫn trốn nhiều nơi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 21/9/2022 thì bị bắt theo quyết định truy nã.

Tại Công văn định giá tài sản số 1376/STC ngày 11/10/2006 của Hội đồng định giá tài sản, thẩm định giá tài sản dây cáp điện là 300.905.000 đồng.

Tại Bản án số 17/2007/HSST ngày 10/5/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử:

Xử phạt các bị cáo: Lê Văn B 11 (mười một) năm tù, Hoàng Văn Đ 08 (tám) năm tù, Đào Văn Đ3 08 (tám) năm tù, Nguyễn Như Đ1 08 (tám) năm tù, Phạm Văn Đ2 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Vũ Thị K 02 (hai) năm tù treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử lý vật chứng như sau:

  • - Trả lại cho Xí nghiệp X phía Nam 663kg dây đồng và 102kg dây kẽm buộc; trả Vũ Thị K 137kg dây đồng; trả Đinh Văn T3 4.700.000 đồng;
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 12 thanh sắt tròn đường kính 1,5cm x 70 và 1.200.000 đồng.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 miếng sắt vuông dài 0,3cm đường kính 05cm; 05 miếng sắt 4 x 4cm dày 0,2cm; 16kg vỏ dây các loại; 4 tấm gỗ tròn dày 6cm đường kính 1,9cm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2023/HS-ST ngày 05/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 138, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 33, Điều 20 Bộ luật Hình sự 1999.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo Lê Văn H được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến ngày 13/01/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/5/2023, bị cáo Lê Văn H có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm và đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm, đề nghị: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Văn H có đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp với quy định tại các điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét đơn kháng cáo của bị cáo theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như nội dung cáo trạng truy tố và bản án sơ thẩm. Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo đồng phạm, bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 17/8/2006 bị cáo Lê Văn H, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Như Đ1 và Lê Văn C đi làm từ huyện G, tỉnh Kiên Giang về ngang qua phường VII, thị xã V (nay là thành phố V) phát hiện có 02 cuộn dây cáp điện để ở lề đường Quốc lộ 61 không ai quản lý, dễ lấy trộm nên khi về đến thành phố Hồ Chí Minh đã đến gặp Lê Văn B và Phạm Văn Đ2 để bàn bạc việc lấy trộm. Sau khi bàn bạc thống nhất, ngày 19/8/2006 các bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 02 cuộn dây cáp điện bán cho Vũ Thị K được số tiền 49.725.000 đồng, sau khi trả tiền thuê xe, thuê bãi thì các bị cáo đã chia nhau số tiền còn lại để tiêu xài cá nhân. Giá trị tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là 300.905.000 đồng. Với hành vi và số tiền mà các bị cáo chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Trong vụ án này, đối với hành vi của các bị cáo Lê Văn B, Hoàng Văn Đ, Đào Văn Đ3, Nguyễn Như Đ1 và Phạm Văn Đ2 đã được xét xử tại Bản án số 17/2007/HSST ngày 10/5/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Đối với bị cáo Lê Văn H, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Quyết định truy nã bị cáo. Ngày 21/9/2022 thì bị cáo bị phát hiện và bắt giữ theo quyết định truy nã. Với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, nên cần phải có hình phạt nghiêm để răn đe đối với bị cáo. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có người thân có công với cách mạng, bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính theo quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù là tương xứng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp Quyết định số 1349/QĐ-UBND ngày 03/4/2023 của Ủy ban nhân dân quận T về việc khen thưởng đối với gương “Người tốt việc tốt” và Giấy khen kèm theo. Mặc dù bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới, nhưng xét toàn diện vụ án, với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cân nhắc vai trò đồng phạm của bị cáo trong vụ án đã xét xử trước đó, với mức hình phạt cấp sơ thẩm xét xử 07 năm tù là tương xứng. Do đó, không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Bị cáo Lê Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo không được Toà án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H xin giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  2. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 138, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 33, Điều 20 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

    Xử phạt bị cáo Lê Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Bị cáo Lê Văn H được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến ngày 13/01/2023 khi thi hành án.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  4. Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - CA tỉnh Hậu Giang (PV06);
  • - TAND, VKSND, CQĐT, Chi cục THADS
  • thành phố Vị Thanh; tỉnh Hậu Giang;
  • - Công an xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thanh Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2023/HS-PT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 54/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger