TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 25/6/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thu Anh
bà Đinh Thanh Hoàn
Thư ký phiên tòa: bà Lục Thanh Hương- Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Tạ Thị Huyền - Kiểm sát viên.
- Những người tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần:
+ ông Đoàn Tuấn A - Kiểm tra viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
+ Ông Nguyễn Hoàng S - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và Phòng xử án trực tuyến - Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 13/6/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 04/6/1985, tại: huyện N, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố G, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định; chỗ ở: khu T, phường T, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị S1; có vợ và 03 con; tiền án; tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/3/2024, bị tạm giam từ ngày 25/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Đặng Thị H, sinh năm 1983; nơi cư trú: khu N, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Trần Đình N, Nguyễn Đức T2, Trần Công D;
- Người chứng kiến: Bùi Văn T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn T là người làm nghề đánh bắt hải sản thuê cho chị Đặng Thị H, tại vùng biển T, thành phố M và được chị H giao cho quản lý, sử dụng 01 chiếc bè mảng có gắn 01 động cơ máy 36CV để phục vụ công việc. Cùng làm việc với T còn có Trần Đình N, Nguyễn Đức T2 và Trần Công D. Khoảng đầu tháng 03/2024, T, N, T2 và D có quen biết một người đàn ông tên là T4 (không rõ lai lịch, địa chỉ) cùng làm nghề đánh bắt hải sản tại vùng biển T. Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ để đốt trong dịp Tết Thanh Minh, nên T đã hỏi và nhờ T4 tìm mua hộ 03 hộp pháo hoa nổ loại giàn 36 ống và 04 hộp pháo hoa nổ loại giàn 100 ống, T4 đồng ý và báo giá 160.000 đồng/01 hộp pháo hoa nổ loại giàn 36 ống và 250.000 đồng/01 hộp pháo hoa nổ loại giàn 100 ống. T đồng ý mua và trả cho T4 số tiền 1.480.000 đồng. Nhận tiền xong, T4 hẹn đến chiều tối ngày 16/03/2024, sẽ giao pháo cho T tại khu vực bến N, thuộc khu T, phường T, thành phố M. Sau đó, T kể lại cho N, T2 và D biết việc T4 có thể mua được pháo hoa nổ. Do cũng có nhu cầu mua pháo hoa nổ để đốt, nên ngày 10/3/2024, N đã đặt mua của T4 01 hộp pháo hoa nổ loại giàn 100 ống, với giá 250.000 đồng; ngày 13/3/2024, D đặt mua của T4 01 hộp pháo hoa nổ loại giàn 100 ống, với giá 250.000 đồng và ngày 14/3/2024, T2 đặt mua của T4 02 hộp pháo hoa nổ loại giàn 36 ống, với giá 320.000 đồng. N, D và T2 đều nhờ T4 giao pháo cho T và nhờ T nhận pháo hộ từ T4, để giao lại cho N, D và T2, T4 và T đồng ý.
Đến khoảng 19 giờ ngày 16/03/2024, T điều khiển bè mảng về khu vực bến N thuộc khu T, phường T, thành phố M để neo đậu và chờ T4 để nhận pháo. Khoảng 30 phút sau, T4 điều khiển 01 chiếc bè mảng (không rõ đặc điểm, không gắn số hiệu) đến và giao cho T 01 bao tải dứa màu trắng và 01 bao tải dứa màu xanh, đều buộc kín đầu. T4 nói bên trong bao tải dứa màu trắng có chứa pháo hoa nổ của T đã đặt mua, bao tải dứa màu xanh chứa pháo hoa nổ của N, T2, D đặt mua và nhờ T giao lại cho N, T2 và D, T đồng ý, rồi cùng với T4 chuyển 02 bao pháo sang bè mảng của T. Sau đó, T4 điều khiển bè mảng bỏ đi. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi T đang ở trên bè mảng thì bị Tổ công tác Đội phòng chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng T5 phối hợp với Công an thành phố M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 01 bao tải dứa màu trắng có chứa 04 khối hình hộp chữ nhật, cùng kích thước (20,5x20,5x14,5)cm và 03 khối hình hộp chữ nhật, cùng kích thước (15x15x14,5)cm, đều có đặc điểm giống nhau, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, tổng khối lượng là 14,6 kg; 01 bao tải dứa màu xanh có chứa 02 khối hình hộp chữ nhật, cùng kích thước (20,5x20,5x14,5)cm và 02 khối hình hộp chữ nhật, cùng kích thước (15x15x14,5)cm, đều có đặc điểm giống nhau, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, tổng khối lượng là 7,8 kg; 01 chiếc bè mảng, kích thước (12,7x2,1)m, trên bè có gắn 01 động cơ máy 36CV.
Tại bản Kết luận giám định số 2017/KL-KTHS ngày 19/3/2024, của V Bộ C, kết luận:
- Các mẫu vật trong bao tải dứa màu trắng, được niêm phong trong thùng bìa cát tông được đánh dấu số 01:
- + 04 khối hình hộp chữ nhật, cùng kích thước (20,5x20,5x14,5)cm, đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) của 01 khối là 2,9 kg. Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) là 11,6 kg.
- + 03 khối hình hộp chữ nhật, cùng kích thước (15x15x14,5)cm, đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) của 01 khối là 01 kg. Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) là 03 kg.
- Các mẫu vật trong bao tải dứa màu xanh, được niêm phong trong thùng bìa cát tông được đánh dấu số 02:
- + 02 khối hình hộp chữ nhật, cùng kích thước (20,5x20,5x14,5)cm, đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) của 01 khối là 2,9 kg. Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) là 5,8 kg.
- + 02 khối hình hộp chữ nhật, cùng kích thước (15x15x14,5)cm, đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) của 01 khối là 01 kg. Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) là 02 kg.
Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) là 22,4 kg và đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất.
Bản Cáo trạng số 673/CT-VKSMC ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tai cơ quan điều tra và được nêu trong nội dung Bản cáo trạng. Bị cáo xác định điều luật, khung hình phạt mà Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Về xử lý vật chứng: đối với 22,4 kg pháo hoa nổ đựng trong 02 bao tải dứa, đã sử dụng hết trong quá trình giám định và không hoàn lại; 01 chiếc bè mảng kích thước (12,7x2,1)m, trên bè có gắn 01 động cơ máy 36CV, quá trình điều tra xác định là của chị Đặng Thị H, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc bè mảng trên cho chị H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Đặng Thị H vắng mặt nhưng lời khai trong hồ sơ có nội dung: chị H thuê Trần Văn T, Nguyễn Đức T2, Trần Công D và Trần Đình N đi đánh bắt hải sản tại vùng biển T, thành phố M theo thời vụ (1 năm 02 vụ). Tiền công thanh toán theo số lượng sản phẩm bắt được, không cụ thể về giá cả. Chiếc bè mảng mà lực lượng chức năng thu giữ là của gia đình chị, được đóng vào năm 2018 với giá khoảng 50 triệu đồng; chị giao chiếc bè này cho T để sử dụng cho việc đánh bắt hải sản. Chị hoàn toàn không biết T có hành vi tàng trữ pháo nổ và không tham gia vào việc tàng trữ pháo. Chị H đã nhận lại bè mảng và không có yêu cầu gì.
Người chứng kiến Bùi Văn T3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: khoảng 20 giờ ngày 16/3/2024 anh được lực lượng chức năng mời tham gia chứng kiến việc kiểm tra 01 mảng bè đang neo đậu tại khu vực bến N thuộc phường T, thành phố M. Thời điểm kiểm tra, phat hiện tại vị trí mặt sàn ở phần mũi của chiếc bè có 01 bao tải dứa màu trắng bên trong có 04 khối hộp hình chữ nhật cùng kính thước (20,5x20,5x14,5)cm và 03 khối hình hộp chữ nhật cùng kích thước (15x15x14,5)cm; 01 bao tải dứa màu xanh bên trong có chứa 02 khối hộp hình chữ nhật cùng kính thước (20,5x20,5x14,5)cm và 02 khối hình hộp chữ nhật cùng kích thước (15x15x14,5)cm. Toàn bộ các khối hộp trên đều có đặc điểm giống nhau, bên ngoài là lớp giấy in nhiều màu sắc ghi chữ nước ngoài. Trần Văn T là người sử dụng chiếc bè khai nhận 11 khối hộp này là pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất. Số pháo trong bao tải màu trằng là của T. Còn số pháo trong bao tải màu xanh là của các anh Trần Đình N, Nguyễn Đức T2 và Trần Công D. Nguồn gốc số pháo trên đều được đặt mua của một người tên T4 (không rõ thông tin lai lịch cụ thể) vào đầu tháng 3/2024, mục đích để đem về quê đốt dịp Tết Thanh M.
Lời khai của người làm chứng Trần Đình N, Nguyễn Đức T2, Trần Công D có trong hồ sơ xác định: các anh đặt mua pháo của một người đàn ông tên T4 (không rõ lai lịch địa chỉ), mục đích để mang về quê sử dụng đốt trong Tết Thanh Minh, sau đó bảo T4 mang đến để nhờ Trần Văn T nhận hộ. Anh T2 mua của T4 02 hộp pháo hoa nổ loại 36 ống với giá 320.000đ. Anh D1 và anh N mỗi anh mua 01 hộp loại 100 ống với giá 250.000đ. Các anh đã trả đủ tiền mua pháo cho T4 và đã bị xử phạt hành chính đối với hành vi này.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024.
- Về xử lý vật chứng: đã xử lý tại giai đoạn điều tra nên không đề cập.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Hồi 20 giờ ngày 16/3/2024, tại khu vực bến N thuộc khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 22,4 kg (Hai mươi hai phẩy bốn ki lô gam) pháo hoa nổ, do Trung Quốc sản xuất, trong đó 14,6 kg để sử dụng và 7,8 kg để giao cho những người khác, bị Đồn Biên phòng T5 phối hợp với Công an thành phố M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn T phạm vào tội: “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đó là chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, vì vậy cần lên một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: đối với 22,4 kg pháo hoa nổ đựng trong 02 bao tải dứa, đã sử dụng hết trong quá trình giám định và không hoàn lại; 01 chiếc bè mảng kích thước (12,7x2,1)m, trên bè có gắn 01 động cơ máy 36CV, quá trình điều tra xác định là của chị Đặng Thị H, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc bè mảng trên cho chị H, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[6] Trong vụ án này có các đối tượng: người đàn ông tên là T4, theo T, N, T2 và D1 khai là người bán trái phép pháo hoa nổ, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra làm rõ. Trần Đình N, Nguyễn Đức T2 và Trần Công D có hành vi mua trái phép pháo hoa nổ của T4 để sử dụng, chưa đến mức để xử lý hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an thành phố M để xử phạt vi phạm hành chính. Chị Đặng Thị H (chủ sở hữu bè mảng), không biết T sử dụng vào việc phạm tội, nên không cấu thành tội phạm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hương Lan |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự về tội tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 20 giờ ngày 16/3/2024, tại khu vực bến N thuộc khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 22,4 kg (Hai mươi hai phẩy bốn ki lô gam) pháo hoa nổ, do Trung Quốc sản xuất, trong đó 14,6 kg để sử dụng và 7,8 kg để giao cho những người khác, bị Đồn Biên phòng T5 phối hợp với Công an thành phố M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
