Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/DS-PT
Ngày 24-7-2024
V/v tranh chấp đất đai

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Vũ Quang Trung
Ông Nguyễn Hồng Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2024/TLPT- DS ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có kháng cáo.

Theo Quyếtđưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 68/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1950; Nơi cư trú: Số A đường N, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.

  • - Bị đơn:Bà Đàm Thị Q, sinh năm 1935; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, Hải Phòng; vắng mặt.

  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Đàm Thị Q: Ông Nguyễn Trịnh S, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1943; nơi cư trú: Số A, N, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.

    2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1946; nơi cư trú: Số 6b 8a-19 Chung cư V, H; phường P, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

    3. Bà Lê Thị N (vợ ông Nguyễn Trịnh H1) và chị Nguyễn Thị H2 (con ông Nguyễn Trịnh H1); nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt.

    4. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

    5. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

    6. Ông Nguyễn Trịnh S, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

    7. Bà Lã Thị H3, sinh năm 1963 (vợ ông Nguyễn Trịnh H4); Anh Nguyễn Trịnh T2, sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1989 (con ông Nguyễn Trịnh H4) đều cư trú: Thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt.

    8. Bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

    9. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

    10. Ông Nguyễn Trịnh L, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

    11. Ông Nguyễn Trịnh L1 (tên thường gọi T5), sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

    12. Bà Nguyễn Thị H6 (vợ ông Ngô Văn H7 là con của cụ Nguyễn Thị T6, cụ Ngô Văn K); nơi cư trú: Thôn B, Đường Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

    13. Chị Ngô Thị P (con ông Ngô Văn H7 và bà Nguyễn Thị H6); nơi cư trú: Chung cư D V A, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

    14. Chị Ngô Thị D (con ông Ngô Văn H7 và bà Nguyễn Thị H6); nơi cư trú: Xóm H, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

    15. Ông Ngô Văn H8 (con cụ Ngô Văn K và cụ Nguyễn Thị T6); nơi cư trú: Thôn B, Đường Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người kháng cáo:Bị đơn bà Đàm Thị Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 6 năm 2022, các lời khai tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bố mẹ đẻ bà là cụ Nguyễn Trịnh X và cụ Đàm Thị D1, quá trình chung sống bố mẹ bà sinh được 06 người con chung gồm có: ông Nguyễn Trịnh N1 (Lăng); Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Trịnh Đ (đã chết khi còn trẻ không có vợ con), bà Nguyễn Thị N2 (đã chết khi còn trẻ không có chồng con). Hai cụ không có con riêng, con nuôi, con nhận, ông bà ngoại đã chết từ lâu, ông bà nội là cụ cố Nguyễn Trịnh L2 (chết năm 1972) và cụ cố Đàm Thị E (bia mộ ghi chết ngày 03.5 âm lịch không rõ năm chết) bà H trình bày (chết trước cụ X, cụ D1). Quá trình chung sống cụ Nguyễn Trịnh X chết ngày 01/7/1967, cụ Đàm Thị D1 chết ngày 20/4/1986 khi chết cả hai cụ không làm thủ tục khai tử tại địa phương theo quy định, bà H đã chụp bia mộ của hai cụ giao nộp cho Toà án.

Quá trình chung sống bố mẹ bà cụ Xá, cụ D1 cùng nhau tạo lập khối tài sản là diện tích đất là hơn 1 mẫu vườn đất tại thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Trong quá trình sử dụng, hai cụ có xây dựng được 02 nhà ở cấp 4, cùng công trình phụ trước năm 1967, ông N1 kết hôn cùng bà Q nên bố mẹ cho ra ở riêng trên diện tích đất 06 sào 7 thước đất ở trong tổng diện tích hơn 1 mẫu đất của hai cụ cùng 01 nhà ngói, sân gạch, bể nước và công trình phụ khác. Phần còn lại là 4 sào 6 thước đất ở cùng 01 ngôi nhà hai cụ sử dụng, cùng các con còn lại chưa lập gia đình là bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn B và bà H. Cụ thể như sau: Căn cứ sổ sách địa phương đang quản lý tại thửa 316, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất tại thôn B (Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng đứng tên chủ sử dụng Đàm Thị D1 (mẹ đẻ bà) diện tích là: 1.646m² tài sản trên thửa đất là 01 căn nhà cấp bốn, nhà bếp, công trình phụ, bể nước đầy đủ, mẹ bà cụ D1 và ông nội cụ cố L2 cùng bà H sinh sống. Ngoài thửa đất 316 đứng tên cụ Đàm Thị D1 bố mẹ bà không còn đứng tên thửa đất nào khác đứng tên tại địa phương và bà cũng không yêu cầu chia thừa kế tài sản nào khác. Quá trình sinh sống năm 1966, bà Nguyễn Thị T đi lấy chồng, năm 1979, ông Nguyễn Văn B lấy vợ và sinh sống tại Hà Nội. Bà H cùng mẹ cụ D1 ăn ở trên thửa đất. Đến năm 1967 bố bà cụ Nguyễn Trịnh X chết, toàn bộ tài sản nhà đất do mẹ bà cụ Đàm Thị D1 quản lý, sử dụng sinh sống trên đất cùng ông nội cụ cố Nguyễn Trịnh L2, bà H. Đến năm 1972 ông nội bà cụ cố Nguyễn Trịnh L2 chết. Đến khoảng năm 1978 do ngôi nhà xuống cấp hư hỏng nhiều khi đó ông B đi bộ đội gửi tiền về để xây nhà mới cho mẹ cụ D1 bà H sinh sống cho đến năm 1986 mẹ bà cụ Dĩu chết sau khi ông nội và mẹ chết bà H vẫn sinh sống tại thửa đất cho đến năm 1990 bà H đi lấy chồng toàn bộ nhà đất cho vợ chồng anh trai là ông Nguyễn Trịnh N1, bà Đàm Thị Q cùng các con quản lý, sử dụng hàng năm anh, chị em vẫn về thăm nhà vào các dịp lễ, tết và cúng giỗ ông, bà bố mẹ. Đến tháng 2 năm 2004 âm lịch, ông Nguyễn Trịnh N1 cùng bà, ông B, bà T thống nhất ông N1 trả lại cho 03 người phần diện tích đất còn lại là 4 sào 6 thước đất ở cùng 01 ngôi nhà mà các anh, chị em đã giao cho ông N1 quản lý, trông nom giúp. Ông N1 đồng ý và hẹn đến tháng 7 năm 2004 âm lịch sẽ làm biên bản trả lại nhưng đến tháng 7 năm 2004 âm lịch ông Năng ố chết, chưa kịp làm biên bản.

Sau khi ông N1 chết bà Q trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất cùng các tài sản trên đất. Theo phong tục địa phương, anh, chị em trong gia đình thống nhất đợi ông Năng mồ yên, mả đẹp sẽ yêu cầu bà Q chia thừa kế đất của bố mẹ, qua nhiều lần họp gia đình giải quyết không có kết quả năm 2008 bà H cùng ông B có làm đơn yêu cầu UBND xã H giải quyết, cho đến nay đã nhiều lần làm đơn yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết nhưng đều không có kết quả. Khoảng năm 2009 – 2012 bà H đã làm đơn khởi kiện gửi đến Toà án yêu cầu giải quyết nhưng sau đó ông B thuyết phục nhiều lần để bà Q cùng các cháu chia đất không giải quyết tại Toà án nữa nên bà H không đề nghị nữa. Cho đến năm 2018 mẹ con bà Q tự ý phá bỏ tài sản là ngôi nhà cấp bốn trên đất xây dựng nhà mới mà không hỏi ý kiến của ông Ba c bà và bà T nên gia đình lại tiếp tục xảy ra xung đột cãi nhau, ông B đã làm đơn yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết và chính quyền thôn, xóm, chi bộ cùng ủy ban nhân dân xã H đã thành lập ban hoà giải, giải quyết tranh chấp của gia đình nhưng thời điểm đó bà Q không có mặt chỉ có mặt anh Nguyễn Trịnh S (con trai trưởng bà Q, ông N1) địa phương đã lập biên bản giải quyết nhưng không có kết quả. Toàn bộ ngôi nhà cấp bốn nguồn gốc ban đầu là do ông B thời điểm đó đi bộ đội (làm phi công) có tiền gửi về để xây nhà cho mẹ cùng ông nội cụ cố L2 và bà H ở. Năm 1990 bà H đi lấy chồng thì vợ chồng ông N1, bà Q sử dụng và trong quá trình sử dụng có sửa chữa do lâu ngày ngôi nhà xuống cấp hư hỏng, toàn bộ ban thờ trong nhà do ông B bỏ tiền mua sắm để làm nơi thờ cúng.

Toàn bộ diện tích đất mà cụ X và cụ D1 để lại đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng không xây tường bao xung quanh nên không có ranh giới, mốc giới cụ thể. Vì vậy bà H yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên chia di sản thừa kế theo thực tế sổ sách tại địa phương đang quản lý là Sổ mục kê cụ thể: Đề nghị chia thừa kế đối với diện tích 1.646m² tại thửa đất số 316, tờ bản đồ số 01 tại thôn B (thôn P cũ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng, đứng tên trong sổ là cụ Đàm Thị D1 mẹ đẻ bà.

Bị đơn bà Đàm Thị Q trong quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt không đến Toà án trình bày quan điểm đến ngày 06/9/2023 sau khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử bà Đàm Thị Q có Đơn đề nghị gửi đến Toà án và tại phiên toà, bà Q trình bày:

Bà H có đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế tài sản là thửa đất 1.646m² tại thửa đất số 316, tờ bản đồ số 01 địa chỉ tại thôn B, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng của cụ Đàm Thị D1 chết đi để lại theo quy định tại Điều 623 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với bất động sản là 30 năm. Hết thời hiệu 30 năm thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý là tôi và các con. Cụ Đàm Thị D1 chết năm 1985 đến nay đã là 38 năm. Như vậy thời hiện khởi kiện chia di sản thừa kế đã hết hiệu lực. Bà Q làm đơn này đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với vụ án này và đình chỉ giải quyết vụ án và công nhận quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của bà và các con. Bà Q trình bày tại phiên toà một mình bà vất vả bao nhiêu năm nay phải trông nom, quản lý sử dụng đóng thuế, hàng năm lo bao nhiêu cũng giỗ không ai đóng góp nên bà không đồng ý chia.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà trình bày:

Bà T thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bà là con đẻ của cụ Nguyễn Trịnh X và cụ Đàm Thị D1, nay hai cụ đều đã chết từ lâu việc tranh chấp đất đai của bố mẹ giữa chị em bà cùng với bà Đàm Thị Q đã kéo dài nhiều năm nay được chính quyền địa phương giải quyết nhiều lần đều không có kết quả. Nay bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế diện tích đất 1.646m² tại thửa đất số 316, tờ bản đồ số 01 tại thôn B Đường Đ (thôn P cũ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng, đứng tên trong sổ là cụ Đàm Thị D1 mẹ đẻ bà theo quy định của pháp luật để bà được hưởng một phần di sản của bố mẹ. Về ngôi nhà cấp bốn xây trên diện tích đất 1.646m² nguồn gốc như bà H trình bày là đúng, bà T lấy chồng bên Hải Phòng thường xuyên về thăm mẹ và anh, chị em. Năm 1986 sau khi mẹ bà cụ Dĩu chết bà H vẫn sinh sống tại ngôi nhà cho đến năm 1990 bà H đi lấy chồng toàn bộ nhà đất do vợ chồng ông N1, bà Q sử dụng. Năm 2004 khi đó ông N1 còn sống đã thống nhất sẽ trả lại phần diện tích đất này cho 3 chị, em bà nhưng sau đó ông N1 chết gia đình xảy ra tranh chấp từ đó cho đến nay bà H, ông B đã nhiều lần làm đơn yêu cầu chính quyền thôn, xóm và UBND xã H giải quyết nhưng mẹ con bà Q vẫn cố tình không chia đất cho chị, em bà. Đến khoảng năm 2018 mẹ con bà Q tự ý phá bỏ ngôi nhà cấp bốn, xây dựng nhà cửa công trình mới trên nền ngôi nhà cũ trước đây của mẹ bà mà không bàn bạc gì với chị em bà nên lại tiếp tục xảy ra tranh chấp lúc đó ông B đã làm đơn gửi đến chi bộ thôn, xóm, giải quyết hoà giải cũng không được sau đó UBND xã H mời đến trụ sở để giải quyết bà Q cũng không đến mà chỉ có anh S đến giải quyết nhưng cũng không ký biên bản. Bà T khẳng định nguồn tiền xây dựng ngôi nhà cấp bốn khi mẹ là cụ D1, cùng ông nội là cụ cố Lai còn sống là của ông B gửi về cho một phần, bà H lúc đó làm giáo viên cũng sống cùng nên bà H cũng có tiền công sức đóng góp. Sau này khi ông nội bà cụ cố Lai chết ngôi nhà cũ hỏng, ông B tiếp tục gửi tiền về cho mẹ sửa sang và xây nhà cấp bốn mới lợp ngói, sau khi bà H đi lấy chồng vợ chồng bà Q sử dụng, hư hỏng thì phải sửa chữa. Nay bà T cung cấp như trên đề nghị Toà án xem xét giải quyết đảm bảo quyền lợi cho bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Trịnh B1 vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt, song đã có quan điểm trình bày tại Toà án:

Bố đẻ ông là cụ Nguyễn Trịnh X và mẹ là cụ Đàm Thị D1. Lúc sinh thời, bố mẹ ông sinh được 06 người con là Nguyễn Trịnh N1 (đã chết năm 2004), Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn Đ1 (đã chết khi còn trẻ chưa có vợ con) và Nguyễn Thị N2 (đã chết khi còn trẻ chưa có chồng con và gia đình không làm khai tử). Ông Đ1 không có vợ, con; bà N2 không có chồng và các con. Ông N1 có vợ là bà Đàm Thị Q cùng các con chung gồm 09 người cụ thể là: Nguyễn Trịnh H1 (đã chết) có vợ Lê Thị N 01 con gái Nguyễn Thị H2; Nguyễn Thị V; Nguyễn Thị T1; Nguyễn Trịnh S; Nguyễn Trịnh H4 (anh H4 đã chết có vợ Lã Thị H3, con Nguyễn Thị T3, Nguyễn Trịnh T2); đều ở xã H; Nguyễn Thị H5; Nguyễn Thị T4; Nguyễn Trịnh L; Nguyễn Trịnh L1 (tên thường gọi T5). Năm 1967, bố đẻ ông là cụ X chết. Năm 1986, mẹ đẻ ông là cụ D1 chết. Cả bố và mẹ ông khi chết đi đều không để lại di chúc. Tài sản của bố mẹ đẻ ông để lại gồm có: Hơn 01 mẫu vườn, 02 ngôi nhà ở chính trên đất, ruộng rau xanh, sân gạch và bể nước tại thôn P, xã H, huyện T, Hải Phòng. Diện tích đất theo sổ sách được địa phương đang quản lý cụ thể là: Tại sổ mục kê thể hiện thửa đất số 316, tờ bản đồ số 01, diện tích đất theo Sổ là: 1.646m² toàn bộ diện tích đất này đến nay do bà Đàm Thị Q (vợ ông N1 cùng 02 con cháu Nguyễn Trịnh L1, Nguyễn Trịnh S đang quản lý, sử dụng. Khi còn sống, bố mẹ ông đã cho vợ chồng ông Nguyễn Trịnh N1 ở riêng và được quản lý phần tài sản là 06 sào 7 thước vườn, 01 ngôi nhà ngói 3 gian, đồ thờ cúng cổ kính, sân gạch, 01 bể nước và đã được đứng tên trong sổ mục kê tại địa phương đang quản lý tại thửa số 316, tờ bản đồ số 01 gồm 03 thửa: thửa thứ nhất diện tích đất 1.680m², thửa thứ hai 526m², thửa thứ ba 216m². Ông là con trai đi học xa nhà sau đó đi bộ đội rồi về sinh sống tại Gia Lâm – Hà Nội. Bà Nguyễn Thị T lấy chồng và sinh sống bên nội thành Hải Phòng. Chỉ còn em gái là bà Nguyễn Thị H sinh sống cùng với bố mẹ ở quê trên diện tích 04 sào 6 thước vườn, 01 nhà lợp rạ. Đến khi bố mẹ chết, bà H vẫn sinh sống ở quê và thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ tại địa phương. Đến năm 1990, bà H đi lấy chồng, đã giao lại nhà đất cho ông Nguyễn Trịnh Năng n trông nom giúp. Tháng 2 âm lịch năm 2004, 04 anh chị em gồm Nguyễn Trịnh N1, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị H đã họp bàn thống nhất ông Nguyễn Trịnh N1 sẽ trả lại phần diện tích vườn đất mà trước đây ông cùng bố mẹ sinh sống cho 03 chị em và thống nhất đến tháng 7 âm lịch năm 2004 sẽ bàn giao chính thức. Nhưng không may đến tháng 7 âm lịch năm 2004 ông N1 bị chết, từ đó đến nay vợ ông N1 là bà Đàm Thị Q cùng các con không chịu bàn giao vườn đất cho ông và bà T, bà H. Ngang ngược hơn, đến năm 2021, con trai của bà Đàm Thị Q đã xây nhà liền kề trên phần đất đang có tranh chấp. Khi ông N1 còn sống có họp gia đình thống nhất trả lại cho ông phần diện tích đất có ngôi nhà cấp bốn khi bố mẹ còn sống cùng ông ăn ở trên đất đó (gọi nhà ngoài) thống nhất đến tháng 7/2004 là ngày giỗ của bố thì sẽ làm biên bản chia đất cho ông, nhưng sau đó đến tháng 5/2004 thì ông N1 bị bệnh nặng ung thư chết nên không thực hiện được việc chia tách thửa đất cho ông. Sau khi ông N1 chết thì theo phong tục tập quán của địa phương cũng như gia đình mãi đến năm 2008 ông mới đến nói chuyện chị dâu và các cháu để lấy đất nhưng bà Q (vợ ông N1) cùng các cháu không đồng ý nên ông mới làm đơn yêu cầu UBND xã H giải quyết hòa giải từ năm 2008 có lập Biên bản hòa giải tại địa phương, đến lần thứ 2 là con bà Q (anh S, anh T5) đập ngôi nhà cũ của bố mẹ đi xây nhà mới trên phần đất có ngôi nhà thì lúc đó ông B lại tiếp tục làm đơn đề nghị xã giải quyết tiếp thời gian khoảng năm 2017, sau đó đến năm 2021 anh S tiếp tục xây nhà và tiếp tục xảy ra tranh chấp trong gia đình. Đến nay, giữa các bên không thể thương lượng và hòa giải được nên ông B đề nghị Toà án xem xét chia di sản thừa kế của bố mẹ theo quy định của pháp luật bản thân ông cũng chỉ mong lấy lại phần diện tích đất để sau này làm nơi thờ cúng cho các con cháu đi về.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trịnh S trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông Nguyễn Trịnh S trình bày:

Ông là con đẻ của ông Nguyễn Trịnh N1 và bà Đàm Thị Q. Cụ Nguyễn Trịnh X và cụ Đàm Thị D1 là ông bà nội. Hiện nay ông đang sống cùng mẹ là bà Q tại thửa đất 1.646m² tại thôn B, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng, nguồn gốc thửa đất là của cụ Nguyễn Trịnh X và cụ Đàm Thị D1 (ông, bà nội chết đi để lại từ năm 1985 đến nay là 38 năm vẫn làm nơi thờ cúng của đại gia đình chúng tôi. Nay bà H là cô ruột ông viết đơn kiện đòi chia tài sản của gia đình tổ tiên để lại là trái với pháp luật vì theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật dân sự năm 2015 đồng nghĩa di chúc có hiệu lực từ ngày người chết để lại. Căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thời hiệu mở thừa kế như sau: Thời hiệu mở thừa kế yêu cầu chia tài sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ ngày mở thừa kế. Hết thời hiệu này, di sản thuộc về người đang quản lý tài sản đó, nếu hết thời hạn này mà không có người thừa kế thì di sản đó thuộc về người đang chiếm hữu nếu không có người chiếm hữu thì di sản đó thuộc về nhà nước quản lý. Như vậy việc bà H khởi kiện gia đình chúng tôi là không đúng quy định pháp luật đề nghị bà H xét xử nghiêm bà H về tội gây rồi gia đình ông và làm trái với Bộ luật dân sự năm 2015.

Đối với ngôi nhà cấp 4, 03 gian trên đất xây khoảng những năm 1980, lúc đó ông S còn đang ở nhà chưa đi bộ đội, khi đó ông nội là cụ X đã chết chỉ còn bà nội là cụ D1. Nguồn gốc làm nên ngôi nhà này có công sức của bố ông và ông B xây dựng lên cho bà nội cụ D1 ở. Cụ D1 ở cùng với em gái ông là bà Nguyễn Thị T4 cho đến năm 1985 cụ D1 chết. Sau khi cụ D1 chết bà H và chị T4 sống ở ngôi nhà này, đến năm 1990 bà H đi lấy chồng thì bố mẹ ông trực tiếp quản lý sử dụng và thờ cúng các cụ tại ngôi nhà này, cho đến năm 2004 thì mẹ ông bà Đàm Thị Q tiếp tục quản lý, sử dụng và làm nơi thờ cúng con cháu các, cô, chú ông B, bà H, T vẫn về. Trong quá trình sử dụng bố mẹ ông đã phải tu sửa, sửa chữa nhiều lần nhưng do đã xuống cấp, dột nát nên đến năm 2018, ông cùng gia đình thống nhất phá bỏ nhà và xây dựng nhà mới như hiện nay. Nay bà H đề nghị xem xét đối với ngôi nhà cấp 4, 03 gian trên đất xây khoảng những năm 1980 của cụ D1, ngôi nhà này đã bị phá bỏ nên không đồng ý chia di sản thừa kế.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã tuyên xử:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 92, 97, 147, và khoản 2 Điều 184, 227, 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990; khoản 2 Điều 149; khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688; Điều 609, 611,612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652; điểm đ khoản 1, Điều 12 và Điều 27 của Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phân chia di sản thừa kế là diện tích đất 1.646m² của cụ Nguyễn Trịnh X và cụ Đàm Thị D1 chết đi để lại tại thửa đất số 316, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất tại thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật.

Chia cho bà Nguyễn Thị H được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng diện tích đất 329,2m² có các mốc giới từ mốc 11, 10, 9, 12 đến mốc 11 (Có sơ đồ kèm theo).

Chia cho bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng diện tích đất 329,2m² có các mốc giới từ mốc 13, 8, 9, 12 đến mốc 13 (Có sơ đồ kèm theo).

Chia cho ông Nguyễn Văn B được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng diện tích đất 267,4m² có các mốc giới từ mốc 16, 15, 14, 13, 7, 6 đến mốc A (Có sơ đồ kèm theo).

Chia cho bà Đàm Thị Q cùng bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L, ông Nguyễn Trịnh L1, bà Lê Thị N (vợ ông Nguyễn Trịnh H1) cùng con là chị Nguyễn Thị Thanh H9, bà Lã Thị H3 (vợ ông Nguyễn Trịnh H4) cùng con là anh Nguyễn Trịnh T2, chị Nguyễn Thị T3 được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng diện tích đất là 720,2m²(trong đó công sức của bà Q là quyền sử dụng diện tích đất 329,2m² diện tích, vị trí cụ thể của mỗi người và quyền sử dụng đất bà Đàm Thị Q được hưởng từ di sản của ông Nguyễn Trịnh N1 là 32,92m²) cùng toàn bộ các tài sản gắn liền với đất có các mốc giới từ mốc 16, 17, 18, 19, 1, 2, 3, 4, 5, 6 đến mốc 16 (Có sơ đồ kèm theo).

Bà Đàm Thị Q cùng bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L, ông Nguyễn Trịnh L1, bà Lê Thị N (vợ ông H1) cùng con là chị Nguyễn Thị Thanh H9, bà Lã Thị H3 (vợ ông H4) cùng con anh Nguyễn Trịnh T2, chị Nguyễn Thị T7 có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản di sản là quyền sử dụng diện tích đất là: 61,8m² x 12.000.000 đồng/1m² = 741.600.000 đồng cho ông Nguyễn Văn B.

Bà Đàm Thị Q cùng các con là bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L, ông Nguyễn Trịnh L1, bà Lê Thị N (vợ ông Nguyễn Trịnh H1) cùng con là chị Nguyễn Thị Thanh H9, bà Lã Thị H3 (vợ ông Nguyễn Trịnh H4) cùng con anh Nguyễn Trịnh T2, chị Nguyễn Thị T3 nếu sau này có tranh chấp về phần di sản thừa kế của ông Nguyễn Trịnh N1 (được hưởng từ di sản của cụ X và cụ D1) là quyền sử dụng diện tích đất 329,2m² và có tranh chấp về các tài sản trên diện tích đất thì cũng như yêu cầu phân chia ranh, giới mốc giới diện tích đất 329,2m² là công sức duy trì, bảo quản di sản của bà Đàm Thị Q sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi các đương sự có đơn yêu cầu.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Đàm Thị Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V, ông Trịnh Văn S1, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L1 kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị:

  • - Toà án đình chỉ giải quyết vụ án với lý do vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế.
  • - Đề nghị công nhận toàn bộ diện tích đất 1.646m2 tại thừa đất số 316, tại thôn B, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng thuộc quyền định đoạt và sử dụng của bà Đàm Thị Q.
  • - Đề nghị huỷ bản án của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử ngày 06/3/2024.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày thời hiệu khởi kiện vụ án chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Trịnh X và cụ Đàm Thị D1 đã hết nên đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án cấp sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án, công nhận toàn bộ diện tích đất 1.646m2 tại thửa đất số 316, tại thôn B, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng thuộc quyền định đoạt và sử dụng của gia đình bà Đàm Thị Q.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông B, bà T và ông S1 đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do đã không chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đàm Thị Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trịnh S, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện do vụ án đã hết thời hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp về thừa kế tài sản, di sản yêu cầu phân chia cũng như nơi cư trú của bị đơn bà Đàm Thị Q cư trú tại thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng nên Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có kháng cáo nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Kháng cáo của bị đơn bà Đàm Thị Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L1 đúng quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

[3.1] Tại phiên toà người kháng cáo là bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4 và ông Nguyễn Trịnh L1 vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử xét những người này đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt coi như họ đã từ bỏ việc kháng cáo nên Toà án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của họ theo quy định tại khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Đàm Thị Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trịnh S:

[3.2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H yêu cầu chia di sản thừa kế là diện tích đất 1.646m² của cụ Nguyễn Trịnh X và cụ Đàm Thị D1 chết đi để lại tại thửa đất số 316, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất tại thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Hội đồng xét xử xét thấy Cụ Nguyễn Trịnh X chết ngày 01/7/1967 và cụ Đàm Thị D1 chết ngày 20/4/1986. Như vậy xác định thời hiệu khởi kiện đối với di sản của cụ X và cụ D1 được tính từ ngày 10 tháng 9 năm 1990.

[3.3] Các đương sự đều trình bày tại thời điểm cụ D1 chết tài sản trên thửa đất có 01 ngôi nhà cấp bốn, cùng công trình phụ, nhà bếp, nhà vệ sinh đơn giản. Sau khi cụ D1 chết bà Nguyễn Thị H là người trực tiếp ăn ở tại ngôi nhà này. Năm 1990 nguyên đơn bà Nguyễn Thị H lập gia đình và không còn sinh sống tại thửa đất mà toàn bộ nhà cấp bốn và công trình trên thửa đất đứng tên cụ Đàm Thị D1 do vợ chồng ông Nguyễn Trịnh N1, bà Đàm Thị Q trực tiếp quản lý, sử dụng. Năm 2004 ông Nguyễn Trịnh N1 chết bà Đàm Thị Q trực tiếp sử dụng và làm nơi thờ cúng cụ X và cụ D1 tại ngôi nhà này cho đến năm 2018 bà Q cùng các con phá bỏ ngôi nhà cũ là di sản để xây nhà mới để bà Q sử dụng và làm nơi thờ cúng, song bà H, ông B, bà T đều không đồng ý. Như vậy có đủ căn cứ xác định tại thời điểm mở thừa kế di sản của cụ X và cụ D1 có nhà ở. Căn cứ Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự, thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với bất động sản là 30 năm.

Tại Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

“……… thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.

Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10-9-1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990.

Khi xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01-7-1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 01-7-1996 đến ngày 01-01-1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp thừa kế không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia; thời gian từ ngày 01-7-1996 đến ngày 01-9-2006 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp thừa kế có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia....".

Do di sản thừa kế của cụ X và cụ D1 có nhà ở, nên thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ X và cụ D1 được cộng thêm 02 năm 06 tháng nên tổng thời hiệu là 32 năm 06 tháng tính từ ngày 10/9/1990. Ngày 29 tháng 12 năm 2022 nguyên đơn bà Nguyễn Thị H nộp đơn khởi kiện về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ X và cụ D1, Hội đồng xét xử xác định tính đến ngày Toà án nhận đơn khởi kiện ngày 29 tháng 12 năm 2022 là 32 năm 4 tháng 19 ngày. Như vậy xác định vụ án còn thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế. Toà án cấp sơ thẩm chia di sản thừa kế của cụ X và cụ D1 là có căn cứ pháp luật.

[3.4] Về nội dung giải quyết, Toà án cấp sơ thẩm đã xác định đúng chính xác di sản của cụ X và cụ D1 khi chết để lại. Xác định đúng và đầy đủ hàng thừa kế của cụ X và cụ D1, phân chia di sản thừa kế của cụ X và cụ D1 cho những người thừa kế đúng quy định pháp luật, chia cho bà Q phần công sức duy trì tôn tạo tương đương với 01 suất thừa kế là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

[3.5] Đối với phần di sản chia bằng giá trị cho ông Nguyễn Văn B, Toà án cấp sơ thẩm chia như vậy là có căn cứ đúng pháp luật phù hợp với thực tế sử dụng, tuy nhiên Toà án cấp sơ thẩm tuyên bà Đàm Thị Q cùng bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L, ông Nguyễn Trịnh L1, bà Lê Thị N (vợ ông H1) cùng con là chị Nguyễn Thị Thanh H9, bà Lã Thị H3 (vợ ông H4) cùng con anh Nguyễn Trịnh T2, chị Nguyễn Thị T3 phải có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản di sản là quyền sử dụng diện tích đất là: 61,8m² x 12.000.000 đồng/1m² = 741.600.000 đồng cho ông Nguyễn Văn B, Toà cấp sơ thẩm không tuyên cụ thể mỗi người phải trả cho ông B là bao nhiêu sẽ khó khăn trong giai đoạn thi hành án. Do vậy Hội đồng xét xử sửa nội dung này theo hướng quyết định cụ thể phần mỗi người phải trả cho ông Nguyễn Văn B. Theo tỷ lệ được chia thì bà Q được 01 suất công sức tương đương với 01 suất thừa kế do vậy bà Q phải chịu 01 nửa số tiền là 370.800.000 đồng (741.600.000₫ : 2 = 370.800.000₫) phải trả cho ông B. Một nửa còn lại là 370.800.000 đồng chia đều cho 10 suất thừa kế là bà Q và các con của ông N1 bà Q mỗi người phải trả cho ông Nguyễn Văn B là 37.080.000 đồng ( 370.800.000: 10 = 37.080.000đ). Như vậy Bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L, ông Nguyễn Trịnh L1 mỗi người phải trả cho ông Nguyễn Văn B là 37.080.000 đồng.

Bà Đàm Thị Q phải trả cho ông Nguyễn Văn B là 407.880.000 đồng (370.800.000đ + 37.080.000₫ = 407.880.000 đồng).

Bà Lê Thị N (vợ ông H1) và chị Nguyễn Thị Thanh H9 (con ông H1) mỗi người phải trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền 18.540.000 đồng ( 37.080.000đ: 2= 18.540.000₫)

Bà Lã Thị H3 (vợ ông H4), anh Nguyễn Trịnh T2 và chị Nguyễn Thị T3 (con ông H4) mỗi người phải trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền 12.360.000 đồng ( 37.080.000₫: 3= 12.360.000₫).

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm xét xử vụ án chia di sản thừa kế của cụ X và cụ D1 là có căn cứ đúng pháp luật, tại phiên toà phúc thẩm các đương sự kháng cáo không cung cấp được chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đàm Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn S1.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Q, ông S1 và bà V là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Đối với án phí dân sự sơ thẩm của bà Nguyễn Thị V, tại cấp sơ thẩm bà V không có đơn xin miễn án phí nhưng sau khi xét xử sơ thẩm bà V có đơn xin được miễn án phí sơ thẩm đây là tình tiết mới tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên chấp nhận miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị V.

[5] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo nên có hiệu lực pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309; khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị V bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L1,

Không chấp nhận kháng cáo của kháng cáo của bị đơn bà Đàm Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trịnh S, sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 92, 97, 147, và khoản 2 Điều 184, 227, 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990; khoản 2 Điều 149; khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688; Điều 609, 611,612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652; điểm đ khoản 1, Điều 12 và Điều 27 của Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phân chia di sản thừa kế là diện tích đất 1.646m² của cụ Nguyễn Trịnh X và cụ Đàm Thị D1 chết đi để lại tại thửa đất số 316, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất tại thôn P (nay là thôn B Đường Đ), xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật cụ thể như sau:

    • Chia cho bà Nguyễn Thị H được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng diện tích đất 329,2m² được xác định bởi các mốc giới từ mốc 11, 10, 9, 12 đến mốc 11 (có sơ đồ kèm theo).

    • Chia cho bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng diện tích đất 329,2m² được xác định bởi các mốc giới từ mốc 13, 8, 9, 12 đến mốc 13 (có sơ đồ kèm theo).

    • Chia cho ông Nguyễn Văn B được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng diện tích đất 267,4m² được xác định bởi các mốc giới từ mốc 16, 15, 14, 13, 7, 6 đến mốc A (có sơ đồ kèm theo).

    • Chia cho bà Đàm Thị Q cùng bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L, ông Nguyễn Trịnh L1, bà Lê Thị N (vợ ông Nguyễn Trịnh H1) cùng con là chị Nguyễn Thị Thanh H9, bà Lã Thị H3 (vợ ông Nguyễn Trịnh H4) cùng con là anh Nguyễn Trịnh T2, chị Nguyễn Thị T3 được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng diện tích đất là 720,2m²(trong đó công sức của bà Q là quyền sử dụng diện tích đất 329,2m² diện tích, vị trí cụ thể của mỗi người và quyền sử dụng đất bà Đàm Thị Q được hưởng từ di sản của ông Nguyễn Trịnh N1 là 329,2m²) cùng toàn bộ các tài sản gắn liền với đất được xác định bởi các mốc giới từ mốc 16, 17, 18, 19, 1, 2, 3, 4, 5, 6 đến mốc 16 (có sơ đồ kèm theo).

  2. Bà Đàm Thị Q cùng bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L, ông Nguyễn Trịnh L1, bà Lê Thị N (vợ ông H1) cùng con là chị Nguyễn Thị Thanh H9, bà Lã Thị H3 (vợ ông H4) cùng con anh Nguyễn Trịnh T2, chị Nguyễn Thị T7 có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản di sản là quyền sử dụng diện tích đất là: 61,8m² x 12.000.000 đồng/1m² = 741.600.000 đồng cho ông Nguyễn Văn B, phần cụ thể mỗi người như sau:

    • Bà Đàm Thị Q phải thanh toán là 407.880.000 đồng.
    • Bà Nguyễn Thị V, 37.080.000 đồng
    • Bà Nguyễn Thị T1, 37.080.000 đồng
    • Ông Nguyễn Trịnh S, 37.080.000 đồng
    • Bà Nguyễn Thị H5, 37.080.000 đồng
    • Bà Nguyễn Thị T4, 37.080.000 đồng
    • Ông Nguyễn Trịnh L, 37.080.000 đồng
    • Ông Nguyễn Trịnh L1, 37.080.000 đồng
    • Bà Lê Thị N 18.540.000 đồng
    • Chị Nguyễn Thị Thanh H9 18.540.000 đồng
    • Bà Lã T8 12.360.000 đồng
    • Anh Nguyễn Trịnh T2 12.360.000 đồng
    • Chị Nguyễn Thị T3 12.360.000 đồng

    Bà Đàm Thị Q cùng các con là bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L, ông Nguyễn Trịnh L1, bà Lê Thị N (vợ ông Nguyễn Trịnh H1) cùng con là chị Nguyễn Thị Thanh H9, bà Lã Thị H3 (vợ ông Nguyễn Trịnh H4) cùng con anh Nguyễn Trịnh T2, chị Nguyễn Thị T3, nếu sau này có tranh chấp về phần di sản thừa kế của ông Nguyễn Trịnh N1 (được hưởng từ di sản của cụ X và cụ D1) là quyền sử dụng diện tích đất 329,2m² và có tranh chấp về các tài sản trên diện tích đất cũng như yêu cầu phân chia ranh, giới mốc giới diện tích đất 329,2m² là công sức duy trì, bảo quản di sản của bà Đàm Thị Q sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi các đương sự có đơn yêu cầu.

  3. Về án phí sơ thẩm:

    Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bị đơn bà Đàm Thị Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn B, bà Lã Thị H3, ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị V là người cao tuổi nên được miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L, ông Nguyễn Trịnh L1 mỗi người phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản là quyền sử dụng đất được chia là: 19.752.000 đồng.

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N cùng con là Nguyễn Thị Thanh H9 mỗi người phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản là quyền sử dụng đất được chia, mỗi người phải nộp là: 9.876.000 đồng và bà Lã Thị H3 cùng hai con là anh Nguyễn Trịnh T2, chị Nguyễn Thị T3 mỗi người phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản là quyền sử dụng đất được chia, mỗi người phải nộp là: 6.584.000 đồng.

  6. Về án phí phúc thẩm:

    Bị đơn bà Nguyễn Thị Q1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trịnh S, bà Nguyễn Thị V là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.

    Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị H5 đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, Biên lai số 0010747 ngày 17/4/2024. Bà Nguyễn Thị T4 đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, Biên lai số 0010746 ngày 17/4/2024. Ông Nguyễn Trịnh L1 đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, Biên lai số 0010742 ngày 16/4/2024, nên bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Trịnh L1 không phải nộp nữa.

  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - TAND huyện Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS Thuỷ Nguyên;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp đất đai

  • Số bản án: 54/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger