Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 - 6 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Hồ Thị Lan
  2. Bà Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lý – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 99/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị Thanh T, sinh năm 1972; nơi thường trú: số nhà C ngõ A đường K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội; nơi tạm trú: số nhà H, ngõ F, thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội; có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Đoàn Ngọc H, sinh năm 1970; nơi thường trú: tổ B, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ B, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Đoàn Ngọc H vào ngày 15/4/1992 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn chưa ai có vợ, có chồng, vợ chồng có thời gian tìm hiểu 02 năm. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2016 thì mâu thuẫn vợ chồng đỉnh điểm. Nguyên nhân là do vợ chồng có quan điểm sống không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Hai vợ chồng đã tìm nhiều cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị và anh H sống ly hôn với nhau từ năm 2011, khi mâu thuẫn xảy ra chị T đưa con lên Hà Nội thuê nhà sinh sống, mong muốn vợ chồng khắc phục mâu thuẫn về đoàn tụ nhưng anh H vẫn không thay đổi. Đến năm 2016, chị chuyển hộ khẩu của chị và hai con chung lên Hà Nội. Từ đó đến nay, mỗi người sống một nơi, anh H vẫn sống ở thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; kinh tế vợ chồng riêng biệt. Thời gian sống ly thân, anh H có nguyện vọng vợ chồng về đoàn tụ với nhau nhưng chị xác định tình cảm dành cho anh H không còn, vợ chồng sống chung với nhau không có hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh H được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Đoàn Ngọc H có 02 con chung là Đoàn Hùng D, sinh ngày 24/01/1993 và Đoàn Hùng D1, sinh ngày 02/11/2001. Các con chung đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, có đầy đủ khả năng lao động, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Đoàn Ngọc H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Đoàn Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có bản tự khai thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Đoàn Ngọc H cũng như tống đạt các văn bản của Tòa án như: thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh H đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Xác nhận của địa phương nơi anh Đoàn Ngọc H sinh sống: Anh Đoàn Ngọc H có hộ khẩu thường trú tại tổ B, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Hiện nay, anh H đã về nhà bố mẹ đẻ tại tổ B, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Mâu thuẫn của gia đình anh H và chị T địa phương không nắm được cụ thể. Chị T đã lên Hà Nội ở nhiều năm nay. Anh H và chị T có 02 con chung là Đoàn Hùng D, sinh năm 1993 và Đoàn Hùng D1, sinh năm 2001. Các con chung đã thành niên, phát triển bình thường.

Tại phiên tòa, cháu Đoàn Hùng D, sinh ngày 24/01/1993 (con chung của chị T và anh H) có mặt và có lời khai: bố mẹ cháu có mâu thuẫn như mẹ trình bày tại phiên tòa là đúng. Bố mẹ cháu không sống cùng nhau kể từ năm 2011, khi cháu lên Hà Nội học thì mẹ cháu và em cháu lên sống cùng từ đó đến nay. Cháu đồng tình với việc mẹ cháu làm đơn ly hôn với bố cháu.

Tại phiên tòa, chị Vi Thị Thanh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Ngọc H.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định của Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Vi Thị Thanh T được ly hôn với anh Đoàn Ngọc H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình về việc “ly hôn” đối với bị đơn anh Đoàn Ngọc H có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn – anh Đoàn Ngọc H: đối với bị đơn, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho bị đơn theo quy định tại Chương X của Bộ luật Tố tụng dân sự như thông báo về việc thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn – anh Đoàn Ngọc H bằng hình thức tống đạt thông qua dịch vụ thừa phát lại nhưng anh H không đến tòa án để làm việc. Do anh Đoàn Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai dù đã được triệu tập hợp lệ, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Thanh T và anh Đoàn Ngọc H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 15/4/1992 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy: mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H xuất phát chủ yếu từ việc vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã dẫn đến tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Mâu thuẫn của vợ chồng xảy ra từ năm 2011, đỉnh điểm vào năm 2016. Mặc dù những mâu thuẫn này vợ chồng đã cố gắng tự hòa giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay, chị T đã chuyển lên Hà Nội sinh sống và từ năm 2016 chuyển hộ khẩu của ba mẹ con lên Hà Nội. Từ khi sống ly thân hai bên đã tìm nhiều biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Đến nay, chị T xác nhận tình cảm dành cho anh H không còn, không còn nguyện vọng tiếp tục cuộc sống chung với anh H nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy triệu tập, thông báo hòa giải cho anh H mục đích hòa giải cho vợ chồng nhưng anh H đều không đến tòa làm việc, việc không đến này của anh H thể hiện anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Qua xác minh thì được biết vợ chồng chị T, anh H không sống cùng nhau nhiều năm, mỗi người sống một nơi, kinh tế riêng biệt.

Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh H.

[3] Về con chung: Chị Vi Thị Thanh T và anh Đoàn Ngọc H có 02 con chung là Đoàn Hùng D, sinh ngày 24/01/1993 và Đoàn Hùng D1, sinh ngày 02/11/2001. Các con chung đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, có đầy đủ khả năng lao động, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vi Thị Thanh T xác định chị T và anh Đoàn Ngọc H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Đối với ý kiến của kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Thanh T được ly hôn với anh Đoàn Ngọc H.
  2. Về án phí: Chị Vi Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0005773 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Vi Thị Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Đoàn Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hạ Long;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Hà Trung, thành phố Hạ Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Thanh T - Đoàn Ngọc H - ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger