Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày: 24 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo, ông Phạm Phước Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/HSST ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Văn H

(tên gọi khác là Chó con), sinh năm 1996 tại C - An Giang, nơi cư trú: tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn D (đã chết) và bà P (không rõ họ, năm sinh); anh chị em ruột: bị cáo là người duy nhất.

Tiền sự: không

Tiền án: ngày 30/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, kết án 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 13/9/2023, chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 cho đến nay.

Bị hại:

  • - Đỗ Văn T, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  • - Huỳnh Phước T1, sinh năm 1974; nơi cư trú: tổ E, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đặng Thị G, sinh năm 1980; nơi cư trú: tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để mua ma túy sử dụng, Đặng Văn H đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 21/01/2024, H điều khiển xe đạp từ nhà đi đến khu vực Kênh A thuộc tổ A, ấp M, xã V, thấy nhà anh Đỗ Văn T đóng cửa, không có người, bên hông nhà có hàng rào lưới B40 (chỉ cài chốt không khóa), bên trong đang nuôi gà; H mở cửa rào đi vào bắt trộm 01 con gà trống và 01 con gà mái để vào thùng nhựa đã mang theo trước đó rồi đi về nhà.

Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 26/01/2024, H điều khiển xe đạp, mang theo 01 thùng nhựa màu trắng, đi từ nhà đến khu vực vườn cây của Huỳnh Phước T1 thuộc tổ E, ấp M, xã V, H thấy có nhiều con gà thả trong vườn, quan sát không có người trông giữ, H liền đi vào bắt trộm 02 con gà mái rồi cất giấu vào thùng nhựa. Sau đó, H tiếp tục đến khu vực vườn cây của Nguyễn Thị N (cách vườn của T1 khoảng 100m) để tiếp tục tìm gà lấy trộm, thì bị ông Nguyễn Văn Đ phát hiện, Hữu bỏ lại thùng nhựa đựng gà rồi điều khiển xe đạp chạy đi. Sau đó, ông Đ đến Công an xã V trình báo, cùng ngày H đến Công an xã V đầu thú.

Vật chứng thu giữ:

  • - 02 con gà mái, tổng trọng lượng 3,3kg (đã trao trả cho bị hại Huỳnh Phước T1);
  • - 01 thùng nhựa màu trắng, có nắp đậy (loại thùng đựng sơn tường), kích thước (28 × 36)cm;
  • - 01 cái túi lưới, kích thước (60 × 60)cm;
  • - 01 chiếc xe đạp màu đen, không rõ nhãn hiệu, số: 93C77785;
  • - 01 cây lưỡi hái dài 26cm, cán bằng gỗ dài 08cm, đường kính 03cm, lưỡi bằng kim loại dài 18cm, rộng 02cm;
  • - 01 cáo áo sơ mi tay dài màu đen; 01 cái quần lửng màu đen; 01 nón kết màu đỏ.

Kết luận định giá tài sản số 145/KL-ĐG ngày 26/01/2024, số 317/KL-ĐG ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, xác định:

  • - 01 con gà mái, lông màu nâu, trọng lượng 1,6kg, trị giá 224.000 đồng; 01 con gà mái, lông màu vàng, trọng lượng 1,7kg, trị giá 238.000 đồng. Tổng trị giá 462.000 đồng (tài sản của Huỳnh Phước T1).
  • - 01 con gà trống, lông màu vàng - đỏ, trọng lượng 2,5kg, trị giá 350.000 đồng; 01 con gà mái, lông màu xám, trọng lượng 02kg, trị giá 280.000 đồng. Tổng trị giá 630.000 đồng (tài sản của Đỗ Văn T).

Tổng giá trị tài sản 1.092.000 (một triệu không trăm chín mươi hai nghìn) đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C ban hành Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đặng Văn H về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Cáo trạng số 34/CT-VKSCĐ-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự 2015).

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đặng Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu (bút lục 101-104, 106-111, 113-116, 123-124).

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đặng Văn H. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 thùng nhựa màu trắng, có nắp đậy (loại thùng đựng sơn tường), kích thước (28 × 36)cm; 01 cái túi lưới, kích thước (60 × 60)cm; 01 cây lưỡi hái dài 26cm, cán bằng gỗ dài 08cm, đường kính 03cm, lưỡi bằng kim loại dài 18cm, rộng 02cm; 01 cáo áo sơ mi tay dài màu đen; 01 cái quần lửng màu đen; 01 nón kết màu đỏ.
  • - Trả lại cho bà Đặng Thị G: 01 (một) chiếc xe đạp màu đen, không rõ nhãn hiệu, số: 93C77785;

Về trách nhiệm dân sự: không.

Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn H khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ thực hiện và hậu quả do hành vi gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định:

Vào ngày 21/01/2024 và ngày 26/01/2024, trên địa bàn ấp M, xã V, thành phố C, bị cáo Đặng Văn H đã có hành vi lén lút, đột nhập lấy trộm 04 (bốn) con gà của Huỳnh Phước T1 và Đỗ Văn T, tổng giá trị được xác định 1.092.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 145/KL-ĐG ngày 26/01/2024, số 317/KL-ĐG ngày 04/3/2024).

Mặc dù giá trị tài sản mà bị cáo H chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhưng thuộc trường hợp đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, cần xử lý nghiêm mới đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, có 01 (một) tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 13/9/2023; đến ngày 21/01/2024 và ngày 26/01/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo; đầu thú; phạm tội nhưng gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; bị cáo thuộc thành phần lao động, không biết chữ nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C đã giao trả lại bị hại Huỳnh Phước T1 01 con gà mái, lông màu nâu, trọng lượng 1,6kg và 01 con gà mái, lông màu vàng, trọng lượng 1,7kg, là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.
  • - Đối với 01 thùng nhựa màu trắng, có nắp đậy (loại thùng đựng sơn tường), kích thước (28 × 36)cm; 01 cái túi lưới, kích thước (60 × 60)cm; 01 cây lưỡi hái dài 26cm, cán bằng gỗ dài 08cm, đường kính 03cm, lưỡi bằng kim loại dài 18cm, rộng 02cm; 01 cáo áo sơ mi tay dài màu đen; 01 cái quần lửng màu đen; 01 nón kết màu đỏ; không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Đối với 01 chiếc xe đạp màu đen, không rõ nhãn hiệu, số: 93C77785, là tài sản hợp pháp của bà Đặng Thị G, bà G không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, xét trả lại cho bà G theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xử lý.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

    Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam, ngày 26/01/2024 (ngày hai mươi sáu, tháng một, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

  2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu, tiêu hủy:

    • - 01 (một) cây lưỡi hái dài 26cm, phần cán bằng gỗ dài 08cm, đường kính 03cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 18cm x rộng 02cm, đã qua sử dụng;
    • - 01 (một) cáo áo sơ mi tay dài màu đen, đã qua sử dụng;
    • - 01 (một) cái quần lửng màu đen, đã qua sử dụng;
    • - 01 (một) nón kết màu đỏ, đã qua sử dụng;
    • - 01 (một) thùng nhựa màu trắng, có nắp đậy (loại thùng đựng sơn tường), kích thước (28 × 36)cm;
    • - 01(một) cái túi lưới, kích thước (60 × 60)cm.

    Giao trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị G: 01 (một) chiếc xe đạp màu đen, không rõ nhãn hiệu, số: 93C77785, đã qua sử dụng.

    (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

  3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Đặng Văn H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Viện KSND tỉnh An Giang (1);
  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger