|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/5/2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Võ Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh;
2/ Ông Nguyễn Thanh Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024, về việc “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con”;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy D – Sinh năm 1995 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã HSơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Nơi ở hiện nay: Khu phố THưng, thị trấn MLâm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Đặng Văn T – Sinh năm 1993 (vắng mặt, không có lý do).
Địa chỉ: Thôn 4, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/02/2024, bản khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy D khai:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đặng Văn T cưới nhau vào khoảng năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Ma Lâm theo Giấy chứng nhận kết hôn số 146/2013 ngày 12/11/2013. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện tìm hiểu trong thời gian 08 tháng. Sau khi cưới vợ chồng bà sống ở thôn 4, xã Hồng Sơn. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi cưới đến khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, ông Tám thường xuyên uống bia rượu sau đó đánh đập, chửi bới bà nhiều lần. Vợ chồng bà không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 02/2024 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của bà là yêu cầu xin được ly hôn với ông Đặng Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đặng Phương U – Sinh ngày 04/8/2014 và Đặng Phương T – Sinh ngày 31/01/2016. Khi ly hôn bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đặng Phương T – Sinh ngày 31/01/2016 và đồng ý để ông Đặng Văn T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đặng Phương U – Sinh ngày 04/8/2014. Bà không yêu cầu ông Đặng Văn T cấp dưỡng nuôi con chung tên Đặng Phương T và không cấp dưỡng nuôi con tên Đặng Phương U.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Ngoài ra, do ông Đặng Văn T vắng mặt nên bà yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Đặng Văn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn, đây là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại thôn 4, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy D vắng mặt tại phiên tòa, đã có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 18/3/2024. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn ông Đặng Văn T đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy D và ông Đặng Văn T tổ chức lễ cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Ma Lâm theo Giấy chứng nhận kết hôn số 146/2013 ngày 12/11/2013. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà Nguyễn Thị Thùy D cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, ông Tám thường xuyên uống bia rượu sau đó đánh đập, chửi bới bà nhiều lần. Vợ chồng bà không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 02/2024 cho đến nay. Nay bà Nguyễn Thị Thùy D xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Đặng Văn T.
Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Đặng Văn T nhưng ông Đặng Văn T cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thùy D và ông Đặng Văn T thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu được ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy D là có căn cứ nên chấp nhận.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thùy D và ông Đặng Văn T có 02 con chung tên Đặng Phương U – Sinh ngày 04/8/2014 và Đặng Phương T – Sinh ngày 31/01/2016.
Tại đơn khởi kiện cũng như tại bản khai, bà Nguyễn Thị Thùy D yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đặng Phương T – Sinh ngày 31/01/2016 và đồng ý để ông Đặng Văn T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đặng Phương U – Sinh ngày 04/8/2014. Bà không yêu cầu ông Đặng Văn T cấp dưỡng nuôi con chung tên Đặng Phương T và không cấp dưỡng nuôi con tên Đặng Phương U.
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thùy D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi vợ chồng bà Nguyễn Thị Thùy D, ông Đặng Văn T không còn ở chung với nhau cho đến nay:
- Con chung tên Đặng Phương T ở với bà Nguyễn Thị Thùy D do bà Dương chăm sóc, giáo dục và nguyện vọng của con tên Tuyên được ở với bà Dương;
- Con chung tên Đặng Phương U ở với ông Đặng Văn T do ông Tám chăm sóc, giáo dục và nguyện vọng của con tên Uyên được ở với ông Tám;
Ông Đặng Văn T không đến Tòa để nêu ý kiến. Vì vậy, căn cứ vào nguyện vọng của các con chung giao con chung tên Đặng Phương T cho bà Nguyễn Thị Thùy D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung tên Đặng Phương U cho ông Đặng Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thùy D không yêu cầu ông Đặng Văn T cấp dưỡng nuôi con tên Đặng Phương T và ông Đặng Văn T không đến Tòa để nêu ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Ông Đặng Văn T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy D về việc yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn T.
Bà Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với ông Đặng Văn T.
-
Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Thùy D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Phương T – Sinh ngày 31/01/2016.
Ông Đặng Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Phương U – Sinh ngày 04/8/2014.
Bà Nguyễn Thị Thùy D và ông Đặng Văn T đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.
-
Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thùy D đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013055 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không nộp nữa.
Ông Đặng Văn T không chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn |
Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con
