Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23 tháng 9 năm 2024

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Lãm
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Thành;
  • Ông Đỗ Ngọc Quý.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Trúc Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 139/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị V; sinh năm: 1994; nơi thường trú: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Văn Ngọc T; sinh năm: 1993; nơi thường trú: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa; nguyên đơn trình bày: Bà V và ông T kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian chung sống, các bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải được, thường xuyên xảy ra xích mích, bất đồng, cãi vã. Nay bà V thật sự không còn tình cảm nên đề nghị Tòa cho bà được ly hôn. Về con chung: Có 02 con chung là Văn Lê Việt M sinh ngày 12/3/2016 và Văn Lê Việt M1 sinh ngày 17/10/2017. Bà V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cả 02 cháu, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Văn Ngọc T để trình bày ý kiến về việc bà V yêu cầu ly hôn, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông T đều không có mặt nên Toà án không lấy được lời khai của ông T, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, đề nghị xét xử vụ án theo thủ tục chung. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị V yêu cầu ly hôn với ông Văn Ngọc T, các đương sự có nơi thường trú tại: xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Bị đơn -Ông Văn Ngọc T đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa các bên là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 92 ngày 26/10/2015 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà V cho rằng mâu thuẫn gia đình là trầm trọng nên đề nghị được ly hôn.

Xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T đến Tòa để tiến hành hoà giải, nghe ý kiến của các bên nhưng ông T đều không có mặt; điều này chứng tỏ ông T không còn quan tâm đến vấn đề hôn nhân và không có thiện chí muốn hoà giải đoàn tụ với vợ. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay các bên không còn sống chung với nhau. Có cơ sở cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc bà V yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T là có căn cứ để chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình

[3] Về con chung: Có 02 con chung là Văn Lê Việt M sinh ngày 12/3/2016 và Văn Lê Việt M1 sinh ngày 17/10/2017. Bà V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cả 02 cháu, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Các con chung hiện đang sống cùng bà V, trong quá trình giải quyết vụ án, các cháu có nguyện vọng tiếp tục được chung sống với mẹ. Do đó, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu của bà V là có cơ sở để chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, bà V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn- bà Lê Thị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235, Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn- Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Văn Ngọc T.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung là Văn Lê Việt M sinh ngày 12/3/2016 và Văn Lê Việt M1 sinh ngày 17/10/2017 cho bà Lê Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà V không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, ông T, bà V có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung, cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Nguyên đơn- Bà Lê Thị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007023 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; bà V đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  3. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa; (01)
  • - VKSND huyện Vạn Ninh; (01)
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh; (01)
  • - UBND xã Vạn Phú, huyện Vạn
  • Ninh, tỉnh Khánh Hoà (đăng ký
  • kết hôn ngày 26/10/2015); (01)
  • - Các đương sự; (02)
  • - Lưu hồ sơ; (02)
  • - Lưu án văn. (01)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Lãm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lê thị V ly hôn văn ngọc T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger