TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số 54/2024/HS-PT Ngày 23 tháng 8 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hán Hưởng |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Hà Giang |
| Ông Nguyễn Quang Vũ |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
1. Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm 1976, tại: huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu E, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1937; con bà Trần Thị N (đã chết); bị cáo có vợ là Hoàng Ngọc Á, sinh năm 1985 và 02 người con; con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Người Bị hại: Anh Đỗ Kim T1, sinh năm 1977
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu E, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T và Đỗ Kim T1, đều cư trú tại khu E, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ là hàng xóm đi chung một đường ngõ xóm với nhau, khoảng đầu tháng 12/2023, khi làm đường bê tông chung để đi vào ngõ trên, các hộ trong ngõ bao gồm cả hộ của T và hộ anh T1 đều thống nhất hộ nào có cây trồng ven đường thì phải chặt bỏ. Hộ T có trồng chuối ở trước cổng nên cũng đã tiến hành chặt bỏ, chỉ để lại 02 cây.
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, sau khi ăn cơm uống rượu tại nhà anh Nguyễn Trung D, ở khu D, xã V về, anh T1 đi sang nhà T, yêu cầu T cắt bỏ 02 cây chuối nêu trên. T đồng ý nhưng bảo anh T1 để lợn, gà nhà T ăn hết số cây chuối đã chặt trước đó thì tuyên sẽ chặt nốt 02 cây chuối này. Tuy nhiên, T1 không đồng ý mà tiếp tục to tiếng, yêu cầu T phải chặt ngay, nếu T không chặt thì T1 sẽ tự tay chặt bỏ. Vì vây, giữ T và T1 đã xảy ra cải chửi nhau. Con trai T là cháu Nguyễn Trung K, sinh năm 2008 khi ấy đang ở trong nhà, nghe tiếng cãi chửi nhau ở ngoài sân nên đã đi ra can ngăn và khuyên anh T1 đi về. Anh T1 cương quyết không về mà tiếp tục quay lại đứng ở sân nhà T cãi nhau với T. Lúc này chị gái T là Nguyễn Thị P1, sinh năm 1974 nghe thấy cãi vã ở nhà T nên cũng chạy sang, cùng cháu K can ngăn và khuyên anh T1 đi về. Thấy anh T1 vẫn không về nên T đã gọi điện thoại cho em trai của anh T1 là Đỗ Kim B, sinh năm 1990 ở cùng khu bảo anh B1 đến đưa anh T1 về nhà. Tuy nhiên, cho rằng đây không phải là lần đầu tiên anh T1 say rượu, không muốn phiền phức nên anh B1 bảo T “Em không biết, em không dây kệ hắn” rồi tắt may. Thấy B không đồng ý sang đón T1 nên anh T cùng với cháu K đẩy anh T1 khỏi sân. T vừa đẩy vừa đuổi T1 về nhà còn cháu K thì đứng giữa, một tay đẩy anh T1 ra cổng, một tay đẩy T vào nhà. Khi hai bên du đẩy nhau đến khu vực C, cách sân khoảng 2 mét, anh T1 dung tay phải nhặt lấy chiếc dép tổ ong của mình vụt 01 cái theo phương ngang vào vùng gáy của T. Bực tức vì việc anh T1 sang nhà chửi bới và đánh mình nên T đã dùng tay phải đấm 02 quả liên tiếp theo phương ngang hướng từ phải qua trái trúng vào vùng mũi và vùng mặt bên trái của anh T1 khiến anh T1 bị chảy máu mũi. Sau đó cả hai tiếp tục giằng co, du đẩy nhau lên khu vực vườn rau giáp cổng nhà T. Cả hai vật lộn dưới nền đất khoảng 01 phút thì cháu K chạy len can ngăn, kéo cả hai ra nên hai bên không vật lộn, đánh nhau nữa. Anh T1 đi bộ xuống cổng và được hàng xóm đưa về nhà.
Chiều cùng ngày, anh T1 được gia đình đưa đi khám, điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đ. Tại đây, Trung tâm y tế huyện Đ xác định, anh T1 bị 01 vết thương rách ra, chảy máu khoảng 1,5 cm, sâu 0,5 cm tại 1/3 trên mũi, gãy xương mũi hai bên, gãy cung tiếp xương gò má trái, tràn khí khoang màng phổi phải, gãy kín cung bên xương sườn số V bên phải. Anh T1 điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đ đến ngày 27/12/2023 thì ra viện.
Ngày 03/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ ra quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của anh T1. Ngày 08/01/2024, Trung tâm y tế tỉnh P kết luận:
- Vết sẹo số một vùng mặt ( sẹo phẫu thuật): 03%;
- Vết sẹo số hai vùng mặt: 03%;
- Gãy xương mũi không ảnh hưởng đến chức năng thở: 07%;
- Gãy cung tiếp gò má trái hai vị trí di lệch: 10%;
- Gãy cung bên sườn số V bên phải can xương tốt: 02%;
- Vùng bụng không để lại tổn thương nên Trung tâm pháp y không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Tỷ lệ phân trăm tổn thương cơ thể của anh Đỗ Kim T1 tại thời điểm giam định trong vụ việc ngày 17/12/2023 là 23% (Hai mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư 22/2019/TT-BUYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y.
Cơ chế hình thành thương tích:
- Vết sẹo hố hai ở sống mũi, gãy xương mũi, gãy cung tiếp xương gò má trái, gãy cung bên xương sườn số V bên phải: Do tác động của vật cứng gây nên.
- Vết sẹo số một vùng mặt: Do bác sĩ phẫu thuật để điều trị.
- Vùng bụng không để lại tổn thương nên Trung tâm pháp y không xác định được cơ chế gây thương tích.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Đỗ Kim T1 có đơn yêu cầu khởi tố đối với T. Xét thấy hành vi của T đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T đồng thời điều tra làm rõ toàn bộ nội dung vụ việc.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố, anh T1 yêu cầu bị cáo T phải bồi thường tổng cộng 55.135.704 đồng, gồm các khoản tiền sau đây:
- Chi phí điều trị nội trú tại T têm y tế huyện Đ số tiền 16.223.704 đồng
- Chi phí đi lại trong thời gian điều trị nội trú số tiền 1.500.000 đồng;
- Tiền bồi thường do mất thu nhập trong thời gian điều trị tại bệnh viện 12 ngày và 18 ngày phải ở nhà dưỡng bệnh = 30 ngày x 500.000 đồng/ngày = 15.000.000 đồng.
- Tiền mất thu nhập cho người chăm sóc là 12 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng.
- Tiền khám lại, tiền tháo dụng cụ ở gò má trái trong thời gian tiếp theo cộng với chi phí ngày công bị mất và người chăm sóc là 10.000.000 đồng.
- Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 10.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, anh T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm tiền anh T1 đi khám lại tại Trung tâm Y tế huyện Đ 1.325.395 đồng cũng như tiền bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian nằm viện theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, bị cáo T đã bồi thường cho anh T1 số tiền 5.000.000 đồng và ngày 10/5/2024, bị cáo tự nguyện nộp số tiền 15.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng để thực hiện bồi thường cho anh Đỗ Kim T1.
Tại phiên tòa, bị cáo T chấp nhận các khoản chi phí điều trị của anh T1 tại Trung tâm y tế huyện Đ cũng như chi phí đi lại trong quá trình điều trị, tiền công lao động bị mất của anh T1 200.000 đồng/ngày. Các chi phí khác bị cáo chỉ chấp nhận bồi thường theo quy định của pháp luật.
Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 134, điểm b, e, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 590, 357, 468 của Bộ luật Dân sự, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, c, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phía Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 tháng tù. Tính từ ngày đi chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại là anh Đỗ Kim T1 tổng cộng 33.181.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường được 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng), bị cáo T tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng và số tiền 15.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng theo biên lai số 0002140 ngày 10/5/2024, để bồi thường cho anh T1. Bị cáo T còn phải bồi thường tiếp cho anh T1 số tiền là 13.181.000 đồng (Mười ba triệu một trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
Bản án còn tuyên về lãi suất, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo bản án sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 30/5/2024, đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và nộp các chứng cứ mới gồm: Giấy khen, huân chương chiến sỹ vẻ vang, huân chương chiến công giải phóng của bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn P trong kháng chiến chống Mỹ; giấy xác nhận bị cáo đã đóng góp cho phong trào đền ơn đáp nghĩa tại xã V và biên lai thu tiền chứng minh đã nộp xong số tiền bồi thường thiệt hại cho người bị hại.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên kháng cáo của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
- Về nội dung vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đề nghị áp dụng điểm b, e, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án.
- Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định của pháp luật.
- Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn T.
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại số tiền chưa bồi thường là 13.181.000₫ (Mười ba triệu một trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
Án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm đã làm rõ: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, tại cổng nhà Nguyễn Văn T ở khu E, xã V, huyện Đ, do bực tức về việc anh Đỗ Kim T1 sang nhà chửi bới, yêu cầu chặt bỏ cây chuối gia đình T trồng ở cổng và anh T1 dùng dép đánh 01 phát vào gáy của T nên T đã dùng tay phải đấm 02 cái theo hướng từ phải qua trái trúng vào vùng mũi và vùng mặt bên trái của anh T1. Sau đó hai bên tiếp tục gằng co, lôi kéo, vật lộn với nhau tại khu vực vườn rau nhà T. Hậu quả anh T1 bị rách da chảy máu vùng mũi, gãy xương mũi hai bên, gãy cung tiếp xương gò má trái, tràn khí khoang màng phổi phải, gãy kín cung bên sương xườn số V bên phải, gây tổn thương cơ thể là 23%. Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn T có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, nên Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án 06 tháng tù về tội: Cố ý gây thương tích, quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là tương xứng tính chất của hành vi phạm tội.
[3] Xét kháng cáo của người bị cáo Nguyễn Văn T xin giảm nhẹ hình phạt và xin áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thấy rằng: Bị cáo thực hiện lối cố ý trực tiếp, tính chất hành vi phạm tội là ít nghiêm trọng; tại cấp sơ thẩm, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; bị cáo phạm tội do bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các tình tiết quy định tại điểm b, e, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng nhiều huân chương kháng chiến nên cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn T cung cấp thêm chứng cứ mới gồm: Giấy khen, huân chương chiến sỹ vẻ vang, huân chương chiến công giải phóng của bố đẻ bị cáo được tặng thưởng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; bị cáo cung cấp chứng cứ mới là giấy xác nhận bị cáo đóng góp cho phong trào đền ơn đáp nghĩa tại xã V và cung cấp biên lai thu tiền của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng chứng minh bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Các chứng cứ mới bị cáo nộp tại cấp phúc thẩm được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; căn cứ nhân thân của bị cáo và chứng cứ mới bị cáo cung cấp thấy rằng: Chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Nên cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo, sửa phần hình phạt tại bản án sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 30/5/2024 của Tòa án huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Về khấu trừ thu nhập: Khoản 3 Điều 36 của Bộ Luật hình sự quy định: “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khẩu trực một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án”.
Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn T có nghề nghiệp chính là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo T.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Xử: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T.
Sửa phần hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Áp dụng khoản 1 Điều 134, điểm b, e, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.
3. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án.
- - Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Bị cáo phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần. Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật đặc biệt nặng. Người bị cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
- - Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn T.
4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường số tiền còn thiếu 13.181.000 đ (Mười ba triệu một trăm tám mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002207, ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 54/2024/HS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 54/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Cố ý gây thương tích
