|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 23-8-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Cầm Thị Quyến.
- Bà Hoàng Thị Kiều.
- Thư ký phiên toà: Bà Cầm Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024, đối với các bị cáo:
- Quàng Văn H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1982; số định danh: 014082003223; nơi cư trú: Bản B, xã P, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Quàng Văn Đ và con bà: Lò Thị D; vợ: Lò Thị C, con: có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Tòng Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1971; số định danh: 014071001209; nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: 7/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Tòng Văn N (đã chết) và con bà: Lèo Thị T1; vợ: Lò Thị T2, con: 03 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Thào A L, tên gọi khác: Không, sinh năm 1982; số định danh: 014082011890; nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Thào A T3 (đã chết) và con bà: Giàng Thị V; vợ: Mùa Thị S, con: có 02 ngườicon, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ nhật sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
· Nguyên đơn dân sự:
- + Ông Lò Văn T4, sinh năm 1975, nơi cư trú: Bản Liềng, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Ông Lò Văn T5, sinh năm 1977, nơi cư trú: Bản Liềng, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
· Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Lò Thị C, sinh năm: 1984, nơi cư trú: Bản Bánh, xã P, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Bà Lò Thị T2, sinh năm: 1973, nơi cư trú: Bản Liềng, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Bà Mùa Thị S, sinh năm: 1988, nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Nguyễn Văn K, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Bản S, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 9/2023, Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 do Nguyễn Văn K, sinh năm 1982, trú tại bản S, xã S, huyện S làm giám đốc ký hợp đồng duy tu sửa chữa, cải tạo cầu treo dân sinh tại bản Mạt, bản Liềng và bản Chăm Hỳ thuộc xã M do Ủy ban nhân dân (UBND) xã M là chủ đầu tư. Đến giữa tháng 10/2023, Nguyễn Văn K gặp đại diện Ban quản lý của các bản để trao đổi việc thi công sửa chữa cầu treo, K nói dùng vật liệu bằng gỗ thông có nguồn gốc từ rừng sản xuất để sửa chữa, xây dựng cầu. Ban quản lý các bản nêu lý do gỗ thông kém chất lượng nếu làm cầu sẽ nhanh hỏng, nên muốn K dùng các loại gỗ có chất lượng tốt tại địa phương làm cầu. Đáp ứng yêu cầu trên, K hợp đồng thuê khoán bằng miệng với Quàng Văn H, sinh năm 1982, trú tại bản Bánh, xã P, huyện S tìm gỗ tại địa phương thi công xây dựng, lắp ráp sửa chữa cầu treo tại bản Liềng, Chăm H1 và bản Mạt trị giá hợp đồng cả ba cầu là 85.000.000 đồng, bao gồm tiền nhân công và tiền mua gỗ. Đối với cầu treo bản Chăm Hỳ và bản Mạt, H và K loại bỏ số gỗ đã hư hỏng, số gỗ còn chất lượng tốt tận dụng để sử dụng làm cầu, số gỗ còn thiếu K liên hệ với Ban quản lý bản Chăm Hỳ và bản Mạt họp dân để nhờ người dân trong bản đóng góp số gỗ còn lại K trả tiền theo giá thị trường cho Ban quản lý bản làm quỹ chi tiêu chung. Đối với cầu treo bản Liềng, K liên hệ với Ban quản lý bản Liềng để mua gỗ trong dân nhưng do không thống nhất được giá nên không mua được gỗ, K đã giao khoán cho H trực tiếp tìm nguồn gỗ tại địa phương.
Thực hiện hợp đồng với K, H đã gọi điện cho ông Lò Văn C1 là Chủ tịch UBND xã M để xin ông C1 tạo điều kiện giúp đỡ trong việc tìm nguồn gỗ tại địa phương, ông C1 trả lời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho H trong việc sửa chữa, xây dựng cầu nhưng không nói cho phép Hơn khai thác gỗ ở rừng trên địa bàn xã M. Sau khi điện thoại gặp ông C1, Hơn thuê Tòng Văn T, sinh năm 1971 trú tại bản Liềng, xã M (anh đồng hao của H) để thuê T khai thác gỗ ở rừng làm cầu treo. H nói với T mình nhận hợp đồng xây dựng, sửa chữa cầu treo bản Liềng và bản Chăm Hỳ, xã M từ N, hiện nay cần gỗ khai thác tại địa phương để làm cầu. Hơn đã đến hỏi xin ông Lò Văn C1 là Chủ tịch UBND xã M cho phép khai thác gỗ trên rừng thuộc địa bàn xã M nên cứ yên tâm khai thác, còn nơi khai thác thì T chủ động chọn khu rừng nào gần đường lớn để dễ vận chuyển và giảm chi phí. T đồng ý, H cung cấp cho T số lượng, kích thước gỗ gồm: 206 tấm ván kích thước (0,2 x 0,03 x 1,9)m; 46 thanh dầm dọc kích thước (0,1 x 0,1 x 3,2)m; 42 thanh dầm ngang kích thước (0,12 x 0,12 x 02)m và 27 thanh dầm chắn kích thước (0,05 x 0,08 x 3,2)m. Hai bên thoả thuận 30.000đồng/01 tấm ván gỗ; 50.000đồng/01 thanh dầm, xà, H cho T ứng trước số tiền 2.000.000 đồng.
Đến khoảng tháng 11/2023, T rủ Thào A Lầu, sinh năm 1982, trú tại bản Huổi Phúc, xã M cùng khai thác gỗ, hai người thống nhất khi H trả tiền sẽ trừ chi phí sau đó chia đều nhau. T cũng nói lại cho L nội dung H nói đã đến hỏi xin Lò Văn C1 là Chủ tịch UBND xã M cho phép khai thác gỗ trên rừng nên cứ yên tâm khai thác. Nghe vậy thì L đồng ý, T chuẩn bị 01 máy cưa xích, nhãn hiệu MASTER, 01 thước loại thước rút dài 03m và 01 đoạn dây dù dài 02m cùng L đến khu R Báo, thuộc bản Liềng, xã M thuộc khu rừng phòng hộ có nguồn gốc rừng tự nhiên, chủ rừng là ông Lò Văn T4 và Lò Văn T5 cùng trú tại bản Liềng, xã M để khai thác gỗ nhưng không cho chủ rừng biết. Quá trình khai thác T và L cùng nhau đi chọn cây, cắt hạ, đo đạc, đánh dấu và cắt xẻ gỗ. Tổng số cây hai người cắt hạ là 10 cây gồm các loại cây Xoan, D1, D2 và T6 hạp hương trong thời gian khoảng 08 ngày liên tục. Sau khi cắt xẻ gỗ xong, T và L thuê Thào A C2, sinh năm 1980, Thào A S1, sinh năm 1993 và Thào A Ư, sinh năm 2003 cùng trú tại bản H, xã M, huyện S kéo gỗ đã xẻ thành tấm đến nơi tập kết gỗ tại bìa rừng sát đường đi từ bản Liềng đến bản Nậm Pừn, xã M để Hơn vận chuyển đến nơi thi công cầu.
Ngày 27/11/2023, tổ công tác Công an xã M và cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện S phụ trách địa bàn phát hiện số gỗ do T và L khai thác gồm 272 tấm, thanh, ván gỗ xẻ có tổng khối lượng 4,182m³, quy gỗ tròn là 6,691m³ tại địa điểm tập kết nên đã báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S giải quyết theo quy định.
Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S lập tổ công tác khám nghiệm hiện trường, kết quả: Hiện trường xảy ra vi phạm tại Tiểu khu G, khoảnh G, lô 12, 13 thuộc Huổi Nguôm Báo, bản L, xã M, huyện S. Phía Bắc giáp rừng cộng đồng bản Liềng, phía Nam giáp đường đi M - M, Điện Biên, phía Đông giáp H, phía Tây giáp nương cộng đồng bản Liềng. Chủ rừng là ông Lò Văn T4 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V866521 cấp ngày 15/10/2002 và ông Lò Văn T5 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V866539 cấp ngày 15/10/2002.
Tại hiện trường phát hiện 10 gốc cây đã bị cưa sát gốc và 35 đoạn thân, cành đã cắt khúc, cụ thể:
Vị trí số 1 là gốc cây Tô hạp hương đường kính gốc 50cm và 05 khúc gỗ. Cách vị trí số 1 về hướng Đông, Nam 15m là vị trí số 2 gốc cây Tô hạp hương đường kính gốc 55cm và 03 khúc gỗ. Cách vị trí số 2 về hướng Bắc 10m là vị trí số 3 gốc cây Tô hạp hương đường kính gốc 40cm và 02 khúc gỗ. Cách vị trí số 3 về hướng Bắc 30m là vị trí số 4 gốc cây Tô hạp hương đường kính gốc 60cm và 10 khúc gỗ. Cách vị trí số 4 về hướng Bắc 20m là vị trí số 5 gốc cây Dổi đường kính gốc 45cm và 02 khúc gỗ. Cách vị trí số 5 về hướng Tây 05m là vị trí số 6 gốc cây Dẻ gai đường kính gốc 43cm và 06 khúc gỗ. Cách vị trí số 6 về hướng Tây 10m là vị trí số 7 gốc cây Dẻ gai đường kính gốc 40cm. Cách vị trí số 7 về hướng Tây 14m là vị trí số 8 gốc cây Xoan đường kính gốc 60cm và 01 khúc gỗ. Cách vị trí số 8 về hướng Nam 50m là vị trí số 9 gốc cây Dẻ gai đường kính gốc 50cm và 03 khúc gỗ. Cách vị trí số 9 về hướng Nam 08m là vị trí số 10 gốc cây Xoan đường kính gốc 26cm và 01 khúc gỗ.
Tổng khối lượng gỗ khai thác trái phép còn tại hiện trường là 10,126m³ gỗ tròn, do địa hình khó khăn không vận chuyển về Công an huyện S được nên tổ công tác đã giao cho chủ rừng là ông Lò Văn T5 và Lò Văn T4 quản lý bảo vệ.
Tại bản kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số: 01-2024/KL/GĐCN ngày 15/01/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh S, kết luận:
Toàn bộ 272 thanh, tấm, ván gỗ xẻ đang cất giữ tại H huyện S (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có khối lượng 6,691 mét khối (m³) gỗ tròn được quy đổi từ 4,182 m³ gỗ xẻ) và 35 khúc, lóng gỗ tròn của 10 cây gỗ bị chặt hạ tại hiện trường khai thác thuộc xã M, huyện S (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có khối lượng 10,126 m³ gỗ tròn) của vụ việc đều là gỗ thông thường, trong đó:
- - 22 lóng, khúc gỗ tròn (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ 1.1 đến số 4.10 của cây số 01 đến cây 04 có khối lượng 4,588 m³ gỗ tròn) và 105 thanh, tấm gỗ xẻ (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ A1 đến số A90; số B2; từ số B đến số B19 có khối lượng 1,506 m³ gỗ xẻ) đều là gỗ Tô hạp Đ1 (tên địa phương là T6 hạp hương), tên khoa học là A takhtadinanii V1 (Altingia siamensis C4), là gỗ thông thường, gỗ nhóm V.
- - 02 lóng, khúc gỗ tròn (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ 5.1 đến số 5.2 của cây số 05 có khối lượng 0,118 m³ gỗ tròn) và 18 tấm gỗ xẻ (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ A97 đến số A có khối lượng 0,205 m³ gỗ xẻ) đều là gỗ Giổi (D), tên khoa học Talauma giổi A.Chev, là gỗ thông thường, gỗ nhóm III.
- - 06 lóng, khúc gỗ tròn (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ 6.1 đến số 6.5 của cây số 06 có khối lượng 0,813 m³ gỗ tròn và gốc cây số 07) và 129 thanh, tấm gỗ xẻ (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ A115 đến số A206; số B1; số B3; số B4; số B5; từ số C15 đến C39; từ số D1 đến số D8 có khối lượng 2,001 m³ gỗ xẻ) đều là gỗ Giẻ gai (Dẻ gai), tên khoa học Castanopsis tonkinensis S2, là gỗ thông thường, gỗ nhóm V.
- - 03 lóng, khúc gỗ tròn (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ 9.1 đến số 9.3 của cây số 09 có khối lượng 0,737 m³ gỗ tròn) và 14 thanh gỗ xẻ (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ C1 đến số C có khối lượng 0,403 m³ gỗ xẻ) đều là gỗ Giẻ đỏ (Dẻ đỏ), tên khoa học L1 ducampii Hickel et A.camus, là gỗ thông thường, gỗ nhóm V.
- - 02 lóng, khúc gỗ tròn (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ 8 và 10 của cây số 08 và cây số 10 có khối lượng 3,870 m³ gỗ tròn) và 06 tấm gỗ xẻ (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có số từ A91 đến số A có khối lượng 0,068 m³ gỗ xẻ) đều là gỗ Xoan mộc, tên khoa học Toona febrifuga R, là gỗ thông thường, gỗ nhóm VI.
Các loại gỗ trên được phân nhóm theo Bảng phân loại nhóm gỗ tạm thời theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 và Quyết định số 334-CNR ngày 10/5/1988 của Bộ L3”.
Kết luận giám định:
- - Hiện trường khu vực vi phạm thấy có 10 gốc cây đã bị chặt hạ có vết cắt bằng cưa, chỉ còn lại gốc của 10 cây và một số đoạn thân, cành, ngọn, lá khô của các cây gỗ sau khi bị khai thác để lại.
- - Kết quả đối chiếu, chồng xếp lớp bản đồ thể hiện vị trí của 10 cây bị khai thác lên nền bản đồ giao đất giao rừng xã M năm 2002 có kết quả:
- - Kết quả đối chiếu, chồng xếp lớp bản đồ thể hiện vị trí của 10 cây bị khai thác lên nền bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 có kết quả:
- + Vị trí của các cây số 01, 02, 03, 04, 09: Nằm trong lô 24, khoảnh G, tiểu khu G.
- + Vị trí của các cây số 05, 06, 07, 08, 10: Nằm trong lô 27, khoảnh G, tiểu khu G.
- + Loại rừng: Vị trí của 10 cây bị khai thác nằm trong lô 24 và lô 27, khoảnh 7, tiểu khu G thuộc khu rừng phòng hộ có nguồn gốc là rừng tự nhiên.
Kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐG ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận:
- “- Gỗ T7 hạp Điện Biên (tên địa phương là T7 hạp hương), thuộc gỗ nhóm V, tổng khối lượng 6,9976 mét khối (m³) gỗ tròn, có giá: 15.864.000 đồng.
- - Gỗ Dổi, thuộc gỗ nhóm III, tổng khối lượng 0,446 mét khối (m³) gỗ tròn, có giá: 2.304.000 đồng.
- - Gỗ Giẻ gai, thuộc gỗ nhóm V, tổng khối lượng 4,013 mét khối (m³) gỗ tròn, có giá: 7.424.000 đồng.
- - Gỗ Giẻ đỏ, thuộc gỗ nhóm V, tổng khối lượng 1,3818 mét khối (m³) gỗ tròn, có giá: 2.764.000 đồng.
- - Gỗ Xoan mộc, thuộc gỗ nhóm VI, tổng khối lượng 3,9788 mét khối (m³) gỗ tròn, có giá: 7.361.000 đồng”.
Tổng trị giá số gỗ là 35.717.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/4/2024, chủ rừng là ông Lò Văn T4 và Lò Văn T5 đề nghị các bị cáo bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền 35.717.000đồng theo quy định của pháp luật, ngoài ra không có yêu cầu khác. Ngày 10/5/2024, đại diện các bị cáo Quàng Văn H, Tòng Văn T và Thào A L đã tự nguyện nộp mỗi bị cáo số tiền 7.000.000đồng, tổng số tiền là 21.000.000 đồng.
Cáo trạng số: 43/CT-VKSSC ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Quàng Văn H, Tòng Văn T và Thào A L về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- - Các bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, đều ý thức được việc khai thác gỗ mà không có hồ sơ, giấy tờ xin cấp phép của cơ quan có thẩm quyền là trái quy định của pháp luật, nhưng đều chủ quan là việc khai thác gỗ để làm cầu dân sinh nếu có bị phát hiện cũng không bị xử lý nên đã thực hiện việc khai thác. Toà án xét xử là không oan sai.
- - Nguyên đơn dân sự đều có ý kiến: Sau khi vụ án bị phát hiện, đã xác định được mức thiệt hại do các bị cáo gây ra theo định giá là 35.717.000 đồng. Gia đình các bị cáo (vợ các bị cáo) đã bồi thường được 21.000.000 đồng, nay yêu cầu các bị cáo bồi thường tiếp số còn lại.
- - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (là vợ của các bị cáo) đều có ý kiến: Việc các bị cáo đi khai thác gỗ tại rừng phòng hộ thì gia đình không biết, sau khi sự việc xảy ra đã khắc phục bồi thường cho mỗi bị cáo 7.000.000 đồng và đều đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 232, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo: Quàng Văn H; Tòng Văn T, Thào A L phạm tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Đề nghị xử phạt: Quàng Văn H từ 26 đến 30 tháng tù; Tòng Văn T từ 25 đến 29 tháng tù; Thào A L từ 24 đến 28 tháng tù; đều xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo, với mức thử thách thích hợp, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án. Trả tự do cho các bị cáo tại phiên toà. Giao bị cáo Quàng Văn H cho UBND xã P; giao các bị cáo Tòng Văn T, Thào A L cho UBND xã M, huyện S theo dõi, giám sát trong thời gian thử thách.
- + Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
- + Buộc các bị cáo phải bồi thường dân sự tiếp (sau khi đã trừ phần tự khắc phục).
- + Các bị cáo được miễn án phí.
- + Các bị cáo; nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.
Bị cáo; những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định tội danh:
- - Vào khoảng tháng 11/2023, Quàng Văn H đã thuê Tòng Văn T và Thào A L khai thác trái phép 10 cây gỗ gồm: 04 cây Tô tạp Điện Biên (Tô tạp hương) tên khoa học là A takhtadinanii V.T.Thái (Altingia siamensis C4) là gỗ thông thường nhóm V; 02 cây Xoan mộc, tên khoa học T8 febrifuga Roen, là gỗ thông thường nhóm VI; 02 cây Giẻ gai (Dẻ gai) tên khoa học C3 tonkinensis Seen, là gỗ thông thường nhóm V; 01 cây Giẻ đỏ (Giẻ đỏ) tên khoa học L2 ducampii Hickel et A.camus, là gỗ thông thường nhóm V; 01 cây gỗ Giổi (Dỗi) tên khoa học Talauma giổi A.chev, là gỗ thông thường nhóm III. Tổng khối lượng lâm sản bị khai thác là 16,817m³, trị giá 35.717.000đồng tại lô I2, I3 khoảnh 7, tiểu khu G theo bản đồ giao đất giao rừng xã M năm 2002 và thuộc lô 24, 27 khoảnh 7, tiểu khu G theo bản đồ điều chỉnh 03 loại rừng được phê duyệt theo Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh S là rừng phòng hộ có nguồn gốc tự nhiên được giao cho ông Lò Văn T4 và ông Lò Văn T5 quản lý, bảo vệ.
- - Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai nhận của các bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Các bị cáo Quàng Văn H, Tòng Văn T, Thào A L đã phạm tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự. Như vậy, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi khai thác gỗ trái phép của các bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản lý của Nhà nước, xâm phạm sự phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường rừng, gây hiểm họa khôn lường đến môi trường sinh thái. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó cần có mức hình phạt đúng mức, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và để phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Quàng Văn H là người khởi xướng, thuê Tòng Văn T và Thào A L thực hiện hành vi khai thác gỗ trái phép, tuy nhiên các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất, phân công vai trò khi thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, tính chất đồng phạm trong vụ án là đồng phạm giản đơn, vị trí vai trò của các bị cáo đều là người thực hành.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều là dân tộc thiểu số, sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Sau khi tội phạm xảy ra đã tác động gia đình như (vợ, con) bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp mỗi bị cáo 7.000.000 đồng; tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được Ban quản lý bản Liềng, xã P đại diện cộng đồng bản Liềng đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra Quàng Văn H có bố là ông Quàng Văn Đ tham gia kháng chiến chống Mỹ được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba và được Ủy ban M tặng Huy chương vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét, áp dụng cho các bị cáo được hưởng.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo sau khi tội phạm xảy ra đã tỏ rõ sự ăn năn, hối cải; tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả; các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; chấp hành tốt quy ước, hương ước của thôn bản. Do vậy, xét thấy không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo, giáo dục tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.
[6] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:
- - Đối với Nguyễn Văn K, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 là người thuê Quàng Văn H xây dựng, sửa chữa cầu treo, quá trình điều tra xác định K không biết H thuê người đi khai thác gỗ trái phép nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.
- - Đối với Lò Văn C1 là Chủ tịch UBND xã M chủ đầu tư xây dựng, sửa chữa các cầu treo tại bản Liềng, quá trình điều tra xác định ông C1 chỉ hứa tạo điều kiện thuận lợi cho H xây dựng, sửa chữa cầu treo. Không cho phép Hơn khai thác gỗ trái phép tại địa bàn xã M nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.
- - Đối với Thào A C2, Thào A S1 và Thào A Ư là những người được thuê vận chuyển gỗ, quá trình điều tra xác định trước khi vận chuyển gỗ thuê T và L nói việc khai thác gỗ đã xin cơ quan có thẩm quyền cho phép để làm cầu treo tại bản Liềng, không biết T và L khai thác gỗ trái phép nên không đồng phạm với các bị cáo.
- - Đối với 01 cái thước, loại thước rút dài 03m và 01 đoạn dây dù dài 02m là công cụ các bị cáo sử dụng để đo, đánh dấu khi cắt xẻ gỗ các bị cáo khai nhận đã vứt lại tại hiện trường, tổ công tác đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy vì vậy không thu giữ, tạm giữ được.
- - Quá trình điều tra Tòng Văn T giao nộp số tiền 2.000.000 đồng là tiền công T ứng trước của Quàng Văn H. Xác định được số tiền này là tiền của Nguyễn Văn K, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 là người thuê Quàng Văn H xây dựng, sửa chữa cầu. Tuy nhiên, khoản tiền này Tòng Văn T sẽ sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, cần tịch thu để sung ngân sách Nhà nước. Nếu Quàng Văn H và Nguyễn Văn K có ý kiến khác về khoản tiền này có thể khởi kiện ở vụ án dân sự khác.
[7] Về bồi thường dân sự: Chấp nhận việc các bị cáo đã bồi thường được 21.000.000 đồng, (phần của mỗi bị cáo 7.000.000 đồng), số còn lại cần phân hoá vai trò buộc các bị cáo phải bồi thường tiếp.
[8] Vật chứng của vụ án còn lại: 01 máy cưa xích nhãn hiệu MASTER, vỏ thân máy bằng nhựa màu da cam, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại (lam cưa) dài 58cm, bản rộng nhất 8,5cm, dày 0,5cm, màu xám, đã qua sử dụng; 01 sợi kim loại gồm các mắt xích, gắn kết thành vòng tròn (lưỡi cưa) dài 120cm do Tòng Văn T giao nộp, đây là vật liên quan đến việc phạm tội, cần tịch thu để tiêu huỷ. Đối với 272 tấm, thanh, ván gỗ xẻ có tổng khối lượng 4,182m³ cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.
[10] Về hình phạt bổ sung và án phí: Các bị cáo không có tài sản, đều là dân tộc thiểu số, cư trú tại bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và đều được miễn án phí.
[11] Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với các bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đều được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 232, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn H, Tòng Văn T, Thào A L phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
- - Xử phạt: Quàng Văn H 02 năm 02 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm 04 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 23/8/2024.
- - Xử phạt: Tòng Văn T 02 năm 01 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm 02 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 23/8/2024.
- - Xử phạt: Thào A L 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 23/8/2024.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên toà cho các bị cáo, nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Quàng Văn H cho UBND xã P, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Tòng Văn T, Thào A L cho UBND xã M, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 máy cưa xích nhãn hiệu MASTER, vỏ thân máy bằng nhựa màu da cam, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại (lam cưa) dài 58cm, bản rộng nhất 8,5cm, dày 0,5cm, màu xám, đã qua sử dụng; 01 sợi kim loại gồm các mắt xích, gắn kết thành vòng tròn (lưỡi cưa) dài 120cm.
- - Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước: 272 tấm, thanh, ván gỗ xẻ có tổng khối lượng 4,182m³.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu) tạm giữ của Tòng Văn T.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 43 ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, các Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho chủ rừng (nguyên đơn dân sự ông Lò Văn T4, Lò Văn T5) theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá, tổng cộng 35.717.000 đồng (Ba mươi lăm triệu bảy trăm mười bảy nghìn đồng). Các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường dân sự phân hoá theo vai trò, cụ thể từng bị cáo như sau:
- - Quàng Văn H phải bồi thường: 15.717.000 đồng. Được khấu trừ: 7.000.000 đồng (bảy triệu), tại B lại thu tiền số 0000731 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bị cáo Quàng Văn H phải bồi thường tiếp: 8.717.000 đồng (tám triệu bảy trăm mười bày nghìn đồng).
- - Tòng Văn T phải bồi thường: 11.000.000 đồng. Được khấu trừ 7.000.000 đồng (bảy triệu), tại B lại thu tiền số 0000732 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bị cáo Tòng Văn T phải bồi thường tiếp: 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
- - Thào A L phải bồi thường: 9.000.000 đồng. Được khấu trừ: 7.000.000 đồng (bảy triệu), tại B lại thu tiền số 0000733 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bị cáo Thào A L phải bồi thường tiếp: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các bị cáo được miễn án phí dân sự, hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo; nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 23/8/2024; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn H+ĐP phạm tội Vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
