Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 23 – 7 – 2024.

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Nguyễn Bính .
  2. Bà: Lê Thị Kiều Thu.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 111/2024/TLST- HNGĐ ngày 20/3/2024 “V/v: Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 466/2024/QĐST – HNGĐ ngày 03/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1978.

- Bị đơn: Ông Đỗ Tấn Q, sinh năm 1979.

Cùng địa chỉ: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 3 năm 2024, bản tự khai ngày 25/3/2024 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Lê Thị Bích H trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Q có quen biết nhau và phát sinh quan hệ tình cảm, sau một thời gian tìm hiểu thì ông bà quyết định tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, Thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2004, cấp ngày 27/8/2004. Sau một thời gian chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn và không có cùng quan điểm chung và do áp lực công việc, kinh tế, sinh hoạt hàng ngày và nhiều nguyên nhân khác; trong khoảng thời gian sinh sống mọi kinh tế sinh hoạt, học hành cho con cái trong gia đình đều do bà gánh vác, bà cảm thấy rất áp lực và mệt mỏi. Cho đến nay, tình cảm vợ chồng đã không còn nữa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống gia đình luôn áp lực, không thể hàn gắn tình cảm được nữa, mục đích cuộc hôn nhân không đạt được cho nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Tấn Q.

-Về con chung: có 01 con chung tên Đỗ Đức N, sinh ngày 03/5/2005. Hiện con đã đủ tuổi trưởng thành.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị Bích H trình bày: bà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Đỗ Tấn Q vì vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 2/2024 cho đến nay nên không còn tình cảm nữa. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết. Về con chung đã đủ tuổi trưởng thành.

*Theo bản tự khai ngày 05/4/2024 và trong quá trình giải quyết bị đơn ông Đỗ Tấn Q trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Lê Thị Bích H có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2004, cấp ngày 27/8/2004. Vợ chồng chung sống với nhau bình thường, thời gian gần một năm nay bà H thường xuyên nói đi tiếp khách nên ông tự ăn cơm chiều, ông có phàn nàn việc bà H thường xuyên đi và về muộn, từ đó gây mâu thuẫn giữa vợ chồng. Nay ông yêu cầu Toà án hoà giải cho vợ chồng đoàn tụ, ông không đồng ý ly hôn.

-Về con chung: có 01 con chung Đỗ Đức N, sinh ngày 03/5/2005. Hiện con đã đủ tuổi trưởng thành.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa, ông Đỗ Tấn Q trình bày: mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ giữa năm 2023 và từ tháng 02 năm 2024 vợ chồng tự sống ly thân cho đến nay. Ông không đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn vợ chồng dàn xếp được.

Vụ án hoà giải không thành.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng dân sự quy định và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung đã đủ tuổi trưởng thành, về tài sản chung và nợ chung bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: thẩm quyền giải quyết vụ án, phía bị đơn ông Đỗ Tấn Q có nơi cư trú tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích H về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

[2]Về nội dung khởi kiện:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Bích H và ông Đỗ Tấn Q là hợp pháp vì ông bà chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 27/8/2004, số 42/2024. Ông Q, bà H chung sống hạnh phúc cho đến khoảng thời gian gần đây mâu thuẫn phát sinh. Theo bà H cho rằng do vấn đề kinh tế gia đình và áp lực công việc, ông Q không quan tâm chia sẻ với bà, một mình bà H tự lo cho gia đình, con cái. Còn ông Q cho rằng mâu thuẫn xảy ra giữa năm 2023 do bà H thường xuyên đi và về muộn nên ông có bực mình nói lại thì vợ chồng xảy ra lời qua tiếng lại.

Tại phiên toà, ông Q, bà H đều xác định từ tháng 02/2024, vợ chồng tự sống ly thân, mạnh ai nấy sống cho đến nay. Theo xác minh tại địa phương cho biết vợ chồng bà H và ông Q chung sống tại địa phương có xảy ra mâu thuẫn nhau.

Qua đây, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông Q thật sự là có mâu thuẫn xảy ra, tuy ông Q cho rằng vẫn cuộc hôn nhân của ông bà vẫn hàn gắn được nhưng thực tế cho thấy bà H vẫn cương quyết xin ly hôn và hiện nay vợ chồng ông bà đã tự sống ly thân, mạnh ai nấy sống nên việc hàn gắn tình cảm vợ chồng của ông Q, bà H là không thể được nữa.

Việc vợ chồng tự sống ly thân đã làm cho cuộc hôn nhân của ông bà ngày càng lâm vào tình trạng trầm trọng hơn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét thấy để tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này là không có cơ sở.

Từ những nhận định trên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Bích H.

Về con chung: có 1 con chung tên Đỗ Đức N, sinh ngày 03/5/2005, hiện nay cháu N đã đủ tuổi trưởng thành, bà H, ông Q không yêu cầu giải quyết nên hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: bà H, ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xét.

[3]Về án phí: bà Lê Thị Bích H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự;

  • - Khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích H.

  • -Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bích H được ly hôn với ông Đỗ Tấn Q.
  • -Về con chung: Có 1 con chung tên Đỗ Đức N, sinh ngày 03/5/2005, cháu N đã đủ tuổi trưởng thành.
  • -Về tài sản chung và nợ chung: Bà H, ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3/Về án phí:Lê Thị Bích H nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Bà H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0001415 ngày 20/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Phan Thiết, được chuyển thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/7/2024).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - UBND phong nẫm tp. Phan Thiết, Bình Thuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

VŨ THỊ THU HÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ - ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger